Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 110/2023/HS-ST

Ngày 25-10-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T D - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lữ Văn Thành

Ông Nguyễn Minh Quang

- Thư ký phiên tòa: Ông Quang Lương Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T D tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Võ Trọng Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 105/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: P V K, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 07 tháng 5 năm 1995 tại huyện T D, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản Ch L, xã Y T, huyện T D, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 3/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông P V Ph và con bà V Th M; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không, tiền sự: Có 01 tiền sự, ngày 05/3/2020 bị Tòa án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 01 năm 08 tháng, chấp hành xong 29/11/2022. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17 tháng 7 năm 2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Văn Lý – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến: Anh Đ V Gi. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 17/7/2023, P V K đang đi chơi tại thị trấn Th Gi, huyện T D, tỉnh Nghệ An thì gặp một người đàn ông tên Huy không biết họ, tên đệm và địa chỉ cụ thể ở đâu để hỏi mua ma tuý Heroine với mục đích sử dụng. K đã đưa cho H số tiền 300.000 H cầm tiền rồi đi khoảng 30 phút và quay lại đưa cho K một 01 gói potylen màu trắng bên trong chứa ma túy heroin. K nhờ Huy mở gói ma tuý Heroine vừa mua được lấy cho K một ít để sử dụng. Sau khi K sử dụng xong, thì Huy gói ma tuý Heroine lại như cũ rồi bỏ vào bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng Long đưa cho K. K cầm lấy rồi cất vào túi quần bên phải đang mặc và nhờ Huy điều khiển xe máy chở K về. Khi đi đến đoàn đường Quốc lộ 7A khối H B, thị trấn Th Gi, huyện T D, tỉnh Nghệ An thì K xuống xe rồi đi bộ lên vỉa hè.

Đến khoảng 10 giờ 00 phút ngày 17/7/2023 P V K đang đứng ở vỉa hè trên đường Quốc Lộ 7A thuộc khối H B, thị trấn Th Gi, huyện T D, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an huyện T D yêu cầu kiểm tra, quá trình kiểm tra phát hiện, thu giữ trong túi quần bên phải của P V K đang mặc có 01 bao thuốc lá màu vàng mang nhãn hiệu Thăng Long, bên trong bao thuốc lá gồm có 01 bao potylen màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng và 03 điếu thuốc lá. P V K khai nhận với tổ công tác số chất bột màu trắng đó là ma túy heroin của K mua về để sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số: 795/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 21/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An xác định: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của P V K gửi tới giám định là ma tuý Heroine, có khối lượng 0,28 (Không phẩy hai mươi tám) gam.

Bản Cáo trạng số 110/CT-VKS-TD ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T D đã truy tố P V K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: P V K mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo; xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án.

Người bào chữa đề xuất Hội đồng xét xử xem xét đến việc nhận thức pháp luật của các bị cáo đang còn hạn chế, cư trú ở vùng sâu, vùng xa nên lượng hình từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù năm tù, miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo P V K đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào 10 giờ, ngày 17/7/2023, tại khối Hoà Bắc, thị trấn Th Gi, huyện T D, tỉnh Nghệ An, P V K đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,28g gam ma túy Heroine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện và khối lượng vật chứng thu được đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện T D đối với bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung là cần thiết.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên bị cáo có 01 tiền sự nên khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân phạm tội của bị cáo.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và lượng hình ở mức thấp nhất như lời đề nghị của Kiểm sát viên là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[6] Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với người đàn ông tên Huy đã bán trái phép chất ma túy cho K. Hiện cơ quan điều ra chưa xác minh được lai lịch, địa chỉ của người này nên không có căn cứ để xử lý.

[7] Xử lý vật chứng: 0,28g Heroine (đã lấy hết đi giám định), 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, 01 bao Potylen màu trắng và 03 điếu thuốc lá là vật chứng vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;

[8] Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo P V K 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội. “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/7/2023.

[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án (Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 02.10.2023 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T D, tỉnh Nghệ An);

[3] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo P V K.

[4] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 25/10/2023.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh NA;
  • - VKSND huyện T D;
  • - Công an huyện T D;
  • - UBND xã Y T;
  • - Bị cáo, Trại tạm giam;
  • - Người bào chữa;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS huyện T D;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2023/HS-ST ngày 25/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 110/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger