Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25-7-2024
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tô Văn Nhung;
  2. Bà Phạm Tú Nhi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 201/2024/TLST-HNGĐ ngày 23/5/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 81/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 08/7/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thu H, sinh năm 1985; thường trú: Thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; địa chỉ liên hệ: Số H, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Bùi Sĩ T, sinh năm 1985; thường trú: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở: Số D, phường T, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 16/4/2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Võ Thị Thu H trình bày:

Bà Võ Thị Thu H và ông Bùi Sĩ T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận kết hôn số 57, ngày 05/6/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vợ chồng sống chung thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống, không hoà hợp được. Ông T không chăm lo làm việc, phụ giúp gia đình. Năm 2019 bà đã nộp đơn yêu cầu ly hôn nhưng thương con còn nhỏ nên rút đơn để gia đình đoàn tụ. Từ tháng 3/2024 bà cùng các con về nhà mẹ ở, vợ chồng ly thân đến nay. Nay bà xác định tình cảm giữa bà và ông Bùi Sĩ T không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà và ông T có 02 con chung là cháu Bùi Sĩ N, sinh ngày 08/9/2017 và cháu Bùi Bảo N1, sinh ngày 21/4/2019. Sau khi ly hôn bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung (nợ chung): Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

· Đối với bị đơn ông Bùi Sĩ T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì đồng thời vắng mặt suốt quá trình tố tụng không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, căn cứ Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Nguyên đơn bà Võ Thị Thu H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn ông Bùi Sĩ T đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa sơ thẩm vào các ngày 08/7/2024, 25/7/2024 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Thu H và ông Bùi Sĩ T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 57, do Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp ngày 05/6/20217 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của bà H thì thực tế cuộc sống vợ chồng giữa bà và ông T có mâu thuẫn trầm trọng từ nhiều năm nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, không có sự chia sẻ, quan tâm lẫn nhau, vợ chồng đã ly thân. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã triệu tập bà H và ông T đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông T vắng mặt không có lý do, bà H có đơn từ chối hoà giải, điều này càng chứng tỏ tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn và bản thân ông T cũng không quan tâm và không muốn hàn gắn tình cảm. Vì vậy, bà H yêu cầu ly hôn là có căn cứ theo quy định của Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  3. Về con chung: Bà Võ Thị Thu H khai giữa bà H và ông T có 02 con chung là cháu Bùi Sĩ N, sinh ngày 08/9/2017 và cháu Bùi Bảo N1, sinh ngày 21/4/2019. Các con chung hiện đang do bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ông T không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà H về vấn đề con chung. Xét thấy việc giao các con chung cho bà Võ Thị Thu H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo cuộc sống ổn định của con chung, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu N. Mức thu nhập trung bình của bà H hiện nay khoảng 20 triệu đồng/tháng cũng đủ để đảm bảo điều kiện sống cho con chung. Do đó căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà H về con chung. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H tự nguyện không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận.
  4. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
  5. Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Thu H.
  6. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
  7. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị Thu H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 238, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Thu H đối với bị đơn ông Bùi Sĩ T về việc ly hôn, nuôi con.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Thu H được ly hôn với ông Bùi Sĩ T (Giấy chứng nhận kết hôn số 57, do Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp ngày 05/6/2017).
    • - Về con chung: Ông Bùi Sĩ T giao 02 con chung là Bùi Sĩ N, sinh ngày 08/9/2017 và Bùi Bảo N1, sinh ngày 21/4/2019 cho bà Võ Thị Thu H tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H về việc không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
    • Sau ly hôn, bà H và ông T đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.
    • - Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002975 ngày 16/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - CCTHADS thành phố Dĩ An (01);
  • - Đương sự (02);
  • - Lưu: VP, HS (03).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 110/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Võ Thị Thu H xin ly hôn ông Bùi Sỹ T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger