|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 110/2024/HS-ST
Ngày 25/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Văn Bình, bà Đào Thị Vân.
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Châm - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 113/2024/TLST-HS ngày 04/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2024/QĐXXST-HS ngày 11/7/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Văn C, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn T, sinh năm 1968 và con bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1965; gia đình có 07 chị em, bị cáo là con thứ ba; có vợ là: Hoàng Thị N, sinh năm 1995 (đã ly hôn), con: có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2018.
- Tiền án: Không.
- Tiền sự: Tại Quyết định số 04/QĐ – XPHC ngày 21/12/2023, Công an xã H, huyện Y xử phạt vi phạm hành chính đối với Trương Văn C bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Nhân thân: Tại Quyết định số 226/QĐ – UBND ngày 12/8/2021, Chủ tịch UBND xã H, huyện Y quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Trương Văn C, thời hạn 03 tháng. Bị cáo chấp hành xong ngày 12/11/2021.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/4/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 ngày 04/4/2024, Trương Văn C đi bộ ra đường tỉnh lộ 286 với mục đích tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Sau đó C đi nhờ xe đến đoạn gầm cầu C thuộc thôn A, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. C xuống xe và gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi: “Anh có ma túy bán không, bán cho em 200.000 đồng”, người đàn ông trả lời:“Có”, C đưa cho người đàn ông 200.000 đồng, người đàn ông cầm tiền và đưa lại cho C 01 túi nilon màu trắng bên trong có 02 viên nén hình tròn màu hồng là ma túy ngựa và chất tinh thể màu trắng là ma túy đá. C cầm gói ma túy rồi đi bộ về nhà. Khi C đi được khoảng 10m thì bị Công an xã Y phát hiện và bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số 940/KL-KTHS ngày 06 tháng 4 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
“- Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) túi nilon màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,1176 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.
- 02 (hai) viên nén hình tròn màu hồng bên trong 01 (một) túi nilon màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,1911 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Tại Bản Cáo trạng số 113/CT-VKS-YP ngày 04/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo Trương Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Bị cáo C khai: Số ma túy Methamphetamin do Công an thu giữ là ma túy do C mua của một người đàn ông không quen biết vào ngày 04/4/2024 với giá 200.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội; sau khi đưa ra các chứng cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
-Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
-Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Trương Văn C từ 16 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/4/2024.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư niêm phong dán kín trên phong bì có ghi Kính gửi: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y (Mẫu vật hoàn lại sau giám định kèm theo Kết luận giám định số 940/KL – KTHS, ngày 06/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B); 01 phong bì niêm phong dán kín bên trong có que thử nước tiểu.
Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo C.
Sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu luận tội, bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo C thành khẩn nhận tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 00 phút ngày 04/4/2024, tại gầm cầu vượt Quốc lộ C, thuộc thôn A, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Trương Văn C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng là 0,3087 gam; loại ma túy: Methamphetamine để sử dụng cho bản thân.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Ngoài ra ma túy là chất gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Bản thân bị cáo cũng hiểu biết về tác hại của ma túy cũng như những quy định của pháp luật nghiêm cấm đối với tất cả các hành vi phạm tội liên quan đến ma túy nhưng vẫn vi phạm, vì vậy cần xét xử nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên bị cáo là người có nhân thân xấu: Tại Quyết định số 226/QĐ – UBND ngày 12/8/2021, Chủ tịch UBND xã H, huyện Y quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với C, thời hạn 03 tháng. Tại Quyết định số 04/QĐ – XPHC ngày 21/12/2023, Công an xã H, huyện Y xử phạt vi phạm hành chính đối với C bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện cho bản thân mà tiếp tục tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng.
Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội như phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không tài sản và không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
+ Đối với 01 (một) phong bì thư niêm phong dán kín trên phong bì có ghi Kính gửi: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y (Mẫu vật hoàn lại sau giám định kèm theo Kết luận giám định số 940/KL – KTHS, ngày 06/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B); 01 phong bì niêm phong dán kín bên trong có que thử nước tiểu là những vật liên quan đến vụ án, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo C.
[3] Những vấn đề khác:
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho C ngày 04/4/2024 tại thôn A, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, do C không biết tên tuổi địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác định được con người cụ thể, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan Công an tiến hành kiểm tra nhanh ma túy đối với bị cáo, kết quả xác định bị cáo dương tính với ma túy. Do bị cáo không nhớ địa điểm sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra chưa xử lý. Khi nào làm rõ thời gian, địa điểm sử dụng ma túy sẽ xử lý sau.
[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
-
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Trương Văn C 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/4/2024.
- Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Trương Văn C 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. -
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư niêm phong dán kín trên phong bì có ghi Kính gửi: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y (Mẫu vật hoàn lại sau giám định kèm theo Kết luận giám định số 940/KL – KTHS, ngày 06/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B); 01 phong bì niêm phong dán kín bên trong có que thử nước tiểu.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong).
Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo C. -
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. -
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Báo cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Tuấn |
Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 110/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Văn Chiến - Tàng trữ trái phép chất ma túy
