Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24/4/2024

V/v tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Hoàng;
  2. Ông Huỳnh Văn Tý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thanh Thúy – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2024/TLST-HNGĐ ngày 16/01/2024, về việc: “Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/3/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 74/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16/4/2024, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1994 (vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0357.273.xxx
  • * Bị đơn: Chị Dương Thị Mỹ H, sinh năm 1989 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0394.888.xxx

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Phạm Văn T trình bày: Anh Phạm Văn T với chị Dương Thị Mỹ H do tự tìm hiểu nên tiến tới chung sống với nhau từ năm 2018, không có tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (sau đây gọi tắt là UBND) xã V, huyện T, tỉnh An Giang vào ngày 31/5/2019. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T bị bệnh (nhiễm virus COVID-19) từ đó sức khỏe yếu nên không có công việc ổn định, kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng ly thân từ tháng 3/2022 cho đến nay. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn và kéo dài nên anh T yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Dương Thị Mỹ H. Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Thị Kim N, sinh ngày 13/9/2019 (hiện đang sống với cha). Sau khi ly hôn, anh T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị H cấp dưỡng. Về quan hệ tài sản: Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Đối với bị đơn chị Dương Thị Mỹ H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị Dương Thị Mỹ H nhưng chị H đã vắng mặt không lý do nên không có lời khai của chị H.

Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của anh T, chị H tại biên bản lấy lời khai người làm chứng anh Phạm Văn L vào ngày 16/01/2024 thể hiện:: “...Từ đợt bùng dịch covid-19 anh T, chị H bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, sau khi tiêm mũi vắc xin thứ 2 anh T đổ bệnh phải chạy chữa tốn nhiều tiền, từ đó sức khỏe anh T suy yếu không làm được việc kiếm ra tiền nữa, chị H thấy vậy bỏ anh T về nhà cha mẹ ruột của chị H cho đến nay...Có 01 con chung tên Phạm Thị Kim N, sinh năm 2019 từ trước đến nay sống với anh T. Tôi không thấy chị H về thăm con lần nào cả...”.

Tại phiên tòa: Anh Phạm Văn T vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn chị Dương Thị Mỹ H vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • Về tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng: Về cơ bản vụ án đã được tiến hành đúng theo trình tự pháp luật quy định, đã xác minh về tình trạng hôn nhân, có đủ cơ sở đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
  • Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Anh T được ly hôn với chị H. Về con chung: Giao con chung tên Phạm Thị Kim N, sinh ngày 13/9/2019 (hiện đang sống với cha) cho anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét. Về án phí: Anh T yêu cầu ly hôn nên phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (sau đây gọi tắt là HĐXX) nhận định:

  1. Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con; Bị đơn chị Dương Thị Mỹ H cư trú tại huyện T, tỉnh An Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn. Tại phiên tòa, chị H vẫn vắng mặt không có lý do là từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự; Anh Phạm Văn T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
  2. Về nội dung:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Văn T chung sống với chị Dương Thị Mỹ H có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T, tỉnh An Giang ngày 31/5/2019. Do vậy, căn cứ vào Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của anh T, chị H phù hợp với lời khai của anh T về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, cụ thể: Thời gian đầu vợ chồng anh T và chị H chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2020 (dịch COVID-19 bùng phát) thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn về kinh tế, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Mâu thuẫn kéo dài mặc dù anh T, chị H đã cho nhau nhiều cơ hội sửa đổi nhưng vẫn không đạt kết quả, vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 3/2022 cho đến nay, trong thời gian ly thân vợ chồng không còn quan tâm nhau.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án chị H không đến Tòa để tham dự các phiên hòa giải cũng như xét xử, không gửi tờ tự khai thể hiện ý kiến của mình là mặc nhiên thừa nhận có sự mâu thuẫn giữa vợ chồng và không có ý muốn hàn gắn. Do đó anh T đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn là có cơ sở.

Căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh T và chị H đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T đối với chị H.

    1. Về con chung: Qua chứng cứ anh Phạm Văn T cung cấp cũng như kết quả xác minh tình trạng hôn nhân thì anh Phạm Văn T và chị Dương Thị Mỹ H có 01 con chung tên Phạm Thị Kim N, sinh ngày 13/9/2019 hiện đang sống với cha. Nhận thấy anh T đủ điều kiện trực tiếp nuôi con chung và cũng có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N. Trong quá trình giải quyết vụ án chị H không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của anh T về con chung. Do vậy, HĐXX áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, giao con chung tên Phạm Thị Kim N, sinh ngày 13/9/2019 cho anh Phạm Văn T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu N thành niên (đủ 18 tuổi), tự lao động được là phù hợp và đảm bảo được các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển về thể chất, tinh thần, việc học tập, môi trường sống của cháu; Anh T phải tạo điều kiện cho chị H được quyền đến thăm nom, chăm sóc các con chung, không ai được cản trở; Khi cần thiết chị H có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định pháp luật.
    2. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T trình bày không có nên HĐXX không xem xét.
    3. Về tài sản chung và nợ chung: Anh T trình bày không có nên HĐXX không xem xét.
    4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
    5. Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.
    6. Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định của Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Văn T được ly hôn với chị Dương Thị Mỹ H.
  2. Về quan hệ con chung: Anh Phạm Văn T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Phạm Thị Kim N, sinh ngày 13/9/2019; Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền ngăn cản. Người không trực tiếp nuôi con chung nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Dương Thị Mỹ H do anh Phạm Văn T không yêu cầu. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung.
  4. Về tài sản chung và nợ chung:
    • - Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án anh Phạm Văn T trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
    • - Về nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án anh Phạm Văn T trình bày không có nên không đặt ra giải quyết. Tuy nhiên, sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh Phạm Văn T và chị Dương Thị Mỹ H phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
  5. Về án phí sơ thẩm: Anh Phạm Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0013557 ngày 16/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Như vậy, anh T đã thực hiện xong nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm. Chị Dương Thị Mỹ H không phải chịu án phí.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;
  • - UBND xã Vọng Đông, h. Thoại Sơn;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Cẩm Xuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 110/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger