Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/HS-ST

Ngày: 23-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Đồng.

Ông Vũ Ngọc Côn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trung Kiên, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 98/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn V, sinh ngày 06 tháng 12 năm 1990; Tên gọi khác: Không; Quê quán: xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi thường trú: Thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; Có vợ là Nông Thị H1 và 03 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam từ ngày 30/5/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang; Có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Đức H2, sinh năm 1973 (đã chết).

Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện của bị hại:

  1. Cụ Nguyễn Đức Q, sinh năm 1942 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
  2. Bà Trần Thị C, sinh năm 1978 (có mặt).
  3. Anh Nguyễn Đức V1, sinh năm 2000 (có mặt).

Đều cư trú: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  1. Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1996 (có mặt).

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Cụ Nguyễn Đức Q, anh Nguyễn Đức V1, chị Nguyễn Thị M ủy quyền tham gia tố tụng cho bà Trần Thị C, sinh năm 1978; trú tại thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Luân Văn H3, sinh năm 1985 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Người làm chứng:

  1. Chị Mạc Thị H4, sinh năm 1983 (vắng mặt).
  2. Anh Nguyễn Đức S, sinh năm 1978 (vắng mặt).
  3. Anh Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1982 (vắng mặt).

Đều cư trú: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn V là người đã có Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số AL438663 do Sở Giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 14/09/2009. Ngày 31/3/2024, Vụ mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe VISION, màu sơn đỏ-nâu, biển kiểm soát 98E1-696.41 của anh Luân Văn H3 để đến nhà bố vợ là ông Nông Văn S1. Buổi tối cùng ngày, sau khi ăn cơm, uống rượu ở nhà ông S1 xong, khoảng 21 giờ Vụ điều khiển xe mô tô đi theo đường tỉnh lộ 290, hướng xã P đi xã H để về nhà. Khoảng 21 giờ 42 phút cùng ngày, khi V điều khiển xe mô tô đi đến Km6+650, tỉnh lộ 290, thuộc địa phận thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang, lúc này V thấy phía trước có ông Nguyễn Đức H2 đang đi bộ từ bên phải đường để sang bên trái đường, theo chiều từ xã P đi xã H. Vụ không giảm tốc độ mà điều khiển xe tránh về phía bên trái theo chiều đi, tuy nhiên phần đầu chắn bùn bánh trước của xe mô tô do Vụ điều khiển đã va chạm với ông H2 làm ông H2 bị ngã ra lề đường bên trái, xe mô tô bị đổ ở khu vực giữa đường. Sau khi xảy ra tai nạn, ông H2 và V bị thương được đưa đi cấp cứu Bệnh viện Đ2, do thương tích nặng ông H2 được chuyển đến Bệnh viện H6 cấp cứu điều trị, đến ngày 01/4/2024 ông H2 chết. Xe mô tô bị hư hỏng.

Ngày 31/3/2024, Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện L tiến hành khám nghiệm hiện trường; thu giữ 01 đoạn video tại Camera an ninh của gia đình anh Phạm Công Đ1 ghi lại hình ảnh vụ tai nạn, đồng thời tiến hành đo nồng độ cồn của Nguyễn Văn V. Kết quả trong hơi thở của Nguyễn Văn V có nồng độ cồn là 0,108mg/l khí thở. Ngày 01/4/2024, Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện L đã bàn giao hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 31/3/2024 và Biên bản dựng lại hiện trường ngày 10/5/2024 xác định: Hiện trường xảy ra vụ “Tai nạn giao

thông đường bộ” tại Km6+650, đường T, thuộc địa phận thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã bị xáo trộn, thay đổi do đưa nạn nhân đi cấp cứu, xe mô tô đã được dựng lên đưa ra rìa đường bên phải hướng xã P đi xã H. (Xe mô tô biển số 98E1-696.41). Đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn là đoạn đường được trải bê tông xi măng, dài, thẳng, mặt đường rộng 8m, rìa đường có đèn đường chiếu sáng. Tại hiện trường có các dấu vết, ký hiệu như sau: (1) là vết cày xước đứt đoạn kích thước (19,05 x 0,02)m; (2) là vết cày xước đứt đoạn kích thước (3,9x0,05)m; (3) là xe mô tô biển kiểm soát 98E1-696.4. Lấy cột mốc H6/6 tỉnh lộ 290 làm điểm mốc. Lấy mép đường bên phải theo hướng xã H đi xã B làm mép chuẩn.

- Trên mặt đường bê tông xi măng bên trái hướng B - Hồ N có 01 (một) vết cày xước đứt đoạn kích thước (19,05m x2cm), đầu vết quay về hướng B, cuối vết hướng Hồ N. Đầu vết cách mép chuẩn là 3,14m và cuối vết cách mép chuẩn 2,1m. Cuối vết (1) cách mốc là 22,85m, cách đầu vết số (2) là 4,5m.

- Cách đầu vết số (1) là 15,4m về hướng Hồ N là đầu vết cày xước đứt đoạn kích thước (3,9m x 0,5cm) được ký hiệu số (2). Đầu vết số (2) cách mép chuẩn là 1,8m, cuối vết số (2) cách mép chuẩn 1,17m. Đầu vết số (2) cách điểm mốc là 26,5m, cuối vết số (2) cách cuối vết số (1) là 0,9m.

- T trục bánh trước số (3) cách mép chuẩn là 10,2m, tâm trục bánh sau (3) cách mép đường chuẩn là 8,9m. T bánh sau xe số (3) cách vết số (1) là 11,6m, T bánh sau xe số (3) cách cuối vết (2) là 12,3m.

Tại Biên bản khám nhiệm tử thi ngày 01/4/2024, ghi nhận có các dấu vết vết, tổn thương trên tử thi Nguyễn Đức H5 như sau: Vùng ngực phải có diện xây sát da kích thước (12x5)cm; Mu bàn ngón tay phải có diện xây sát bầm tím da kích thước (9x6)cm; Cánh tay cẳng tay trái có diện xây sát bầm tím da kích thước (39x12)cm. Đỉnh vai trái có diện bầm tím da kích thước (7x5)cm; Mu bàn ngón tay trái có diện sưng nề bầm tím da kích thước (8,5x5)cm; Đùi phải có diện xây sát bầm tím da kích thước (12x11)cm, sưng nề biến dạng cẳng chân phải; Gối cẳng chân phải có diện xây sát bầm tím da kích thước (32x11)cm, kiểm tra thấy gãy kín 1/3 dưới cẳng chân phải; Gối cẳng chân trái có diện xây sát bầm tím da kích thước (23x10,5)cm. Mặt mu ngón 2 bàn chân trái có vết xây sát da kích thước (0,5x0,3)cm; Mặt trong cổ chân phải có diện xây sát da kích thước (7,5x6)cm; Vùng lưng trái có diện xây sát bầm tím da kích thước (12x6)cm; Mặt sau mông trái có diện xây sát da kích thước (17x14)cm; Sưng nề vùng đỉnh hai bên. Vùng đỉnh trái có diện xây sát da kích thước (6x5)cm. Quá trình khám nghiệm thu mẫu máu của tử thi.

Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện ngày 14/4/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe VISION, màu sơn đỏ-nâu, biển kiểm soát 98E1-696.41 có các dấu vết sau: Ốp nắp trước tay lái bị vỡ phức tạp trên diện (30x20)cm, có nhiều vết trượt xước sơn và nhựa; Đèn pha phía trước bị bật có vết trượt xước trên diện (10x7)cm bám dính chất màu đỏ dạng sơn; Mặt nạ trước có vết nứt vỡ tại vị trí giữa kích thước (15x10)cm; Chắn bùn phía trước có vết trượt xước phần mũi kích thước (8x8)cm, bị vỡ trên diện (30x17)cm; Mặt lăn

lốp bánh trước có vết mài trượt xước cao su tại má lốp bên phải; Cánh yếm bên phải có vết mài trượt xước sơn, nhựa kích thước (27x13)cm; Cánh yếm bên trái bị bật; Không có gương chiếu hậu bên phải. Gương chiếu hậu bên trái bị cong vênh phần kim loại chân gương; Tay nắm lái bên phải có vết trượt xước kim loại kích thước (2x2)cm, đầu tay phanh bên phải có vết mài trượt xước kim loại kích thước (2,5x1,5)cm; Ốp hông bên phải phần dưới giá để chân có vết mài trượt xước sơn, nhựa kích thước (19x10)cm; Để chân sau bên phải có vết mài trượt xước kim loại và cao su kích thước (12x3,5)cm; Ốp ống xả có vết trượt xước nhựa kích thước (35x7)cm; Ốp sau phần giữa hai cánh yếm bị vỡ kích thước (17x3)cm; Chắn bùn bánh trước có dấu vết vỡ, trượt xước sơn nhựa bề mặt bám dính tổ chức mô da chiều hướng từ trước ra sau trên diện (30x13)cm; tương ứng vị trí này mặt dưới chắn bùn có vết trượt xước sơn nhựa sạch bụi đất bề mặt bám dính chất màu đen hướng từ trước ra sau trên diện (20x8,5)cm.

Tại Kết luận giám định số 1057/KL-KTHS ngày 15/5/2024 của phòng K Công an tỉnh B, kết luận:

1. Dấu vết vỡ, mài trượt sơn nhựa, bám dính tổ chức mô, da, hướng từ trước ra sau, từ phải sang trái ở mặt trên bên phải đầu chắn bùn bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 98E1 – 696.41 (ảnh số 5 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) được hình thành do va chạm với cơ thể người tạo nên. Dấu vết lõm, nứt vỡ nhựa, hướng từ trước ra sau ở mặt nạ, ốp nhựa đầu xe và cụm đèn chiếu sáng của xe mô tô biển kiểm soát 98E1 – 696.41 (ảnh số 1, 2, 3, 4 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tày theo hướng từ trước ra sau tạo nên.

2. Dấu vết trượt xước sơn nhựa, kim loại, bám dính bột đá ở bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98E1 – 696.41 gồm: tay nắm, tay phanh, ốp nhựa để chân trước, để chân sau, ống xả (ảnh 10, 11, 12, 13, 14 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tày cứng không nhẵn. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình xe mô tô chuyển động, đổ nghiêng phải, rê trượt trên mặt đường tạo nên các dấu vết cày xước ký hiệu số 1 và số 2.

3. Không xác định được dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98E1 – 696.41 với cơ thể nạn nhân Nguyễn Đức H2, do không trực tiếp nghiên cứu dấu vết trên cơ thể, quần áo và các đồ vật do nạn nhân H2 mặc, mang theo khi xảy ra tai nạn.

4. Không xác định được tốc độ của xe mô tô biển kiểm soát 98E1 – 696.41 tại thời điểm xảy ra tai nạn qua các dấu vết cơ học.

Tại Kết luận giám định tử thi số 910/KLGĐTT-KTHS ngày 25/4/2024 của phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Nguyên nhân chết của ông Nguyễn Đức H2 do đa chấn thương: Chấn thương sọ não; gãy xương cẳng chân phải.

Đối với Nguyễn Văn V sau tai nạn Vụ cũng bị thương tích được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ2 đến ngày 09/4/2024 ra viện. Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2289/KLTTCT-TTPY

ngày 20/5/2024 của Trung tâm Pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ2 kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn V tại thời điểm giám định là: 31%.

Tại kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 02/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: Thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 98E1-696.41 bị hư hỏng sau tai nạn là 2.800.000 đồng.

Ngày 18/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L cho Nguyễn Văn V xem đoạn video camera thu giữ được, Vụ xác định bản thân chính là người điều khiển xe mô tô va chạm với ông Nguyễn Đức H2 đang đi bộ sang đường vào thời gian 21 giờ 42 phút ngày 31/3/2024.

Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông nêu trên là do lỗi hỗn hợp. Nguyễn Văn V điều khiển phương tiện xe mô tô biển kiểm soát 98E1-696.41 khi đã sử dụng rượu bia, không làm chủ tốc độ và đi không đi đúng phần đường dẫn đến va chạm với ông Nguyễn Đức H2 đang đi bộ sang đường, hành vi của Nguyễn Văn V đã vi phạm khoản 8, Điều 8; khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ và khoản 6, Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G; Ông Nguyễn Đức H2 đi bộ sang đường không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn khi qua đường, vi phạm khoản 3 Điều 32 Luật Giao thông đường bộ. Hậu quả ông H2 chết, Vụ bị thương tích 31% sức khỏe, xe mô tô bị hư hỏng.

Điều 8 Luật Giao thông đường bộ quy định các hành vi bị nghiêm cấm:

8. Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.

Điều 9 Luật Giao thông đường bộ quy định về Quy tắc chung:

1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.

Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT quy định Các trường hợp phải giảm tốc độ: Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:

6. Khi có người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường.

Khoản 3 Điều 32 Luật giao thông đường bộ quy định:

3. Trường hợp không có đèn tín hiệu, không có vạch kẻ đường, cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ thì người đi bộ phải quan sát các xe đang đi tới, chỉ qua đường khi đảm bảo an toàn và chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn khi qua đường.

Về vật chứng vụ án: Ngày 20/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang ra Quyết định xử lý vật chứng số: 942/QĐ-CSĐT, trả lại: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe VISION, màu sơn đỏ nâu, biển kiểm soát 98E1-696.41 cho anh Luân Văn H3. Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số AL438663 mang tên Nguyễn Văn V được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn để xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 01/4/2024, gia đình bị cáo Nguyễn Văn V đã bồi thường cho gia đình bị hại Nguyễn Đức H2 số tiền 30.000.000 đồng. Bà Trần Thị C (là người đại diện của bị hại) yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm số tiền 180.000.000 đồng bao gồm tiền chi phí mai táng phí, tổn thất tinh thần... Bị cáo Nguyễn Văn V không yêu cầu bồi thường gì đối với thiệt hại về sức khỏe và tài sản. Anh Luân Văn H3 là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98E1-696.41 không có yêu cầu Vụ bồi thường thiệt hại của xe mô tô bị hư hỏng sau tai nạn.

* Từ những nội dung trên, bản Cáo trạng số 109/CT-VKS ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Kết luận điều tra và Cáo trạng đã truy tố. Người đại diện của bị hại trình bày đã được bồi thường dân sự 30.000.000 đồng, yêu cầu bị cáo bồi thường thêm 180.000.000 đồng. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người này. Bị cáo không có ý kiến về lời khai của những người vắng mặt.

* Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 260; điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn V từ ......... tháng đến ......... tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Ngoài ra còn đề nghị giải quyết về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí.

Bị cáo, người đại diện của bị hại không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Thực hiện lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện của bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan

tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy những người này đều đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.

[3] Về hành vi của bị cáo theo nội dung bản Cáo trạng truy tố: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn V khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tang vật chứng thu được, các kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 42 phút ngày 31/3/2024, tại Km6+650, tỉnh lộ 290, thuộc địa phận thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Văn V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe VISION, màu sơn đỏ nâu, biển kiểm soát 98E1-696.41 đi hướng xã P đi B trong tình trạng hơi thở có nồng độ cồn là 0,108mg/l khí thở. Lúc này phát hiện thấy phía trước có ông Nguyễn Đức H2 đang đi bộ từ bên phải sang bên trái đường (hướng Phong Vân đi xã B), Vụ không giảm tốc độ mà điều khiển xe đi sang phần đường bên trái theo chiều đi nên xe mô tô do H2 điều khiển đã va chạm với ông H2. Hậu quả ông H2 chết, thiệt hại về tài sản là 2.800.000 đồng. Hành vi của Nguyễn Văn V đã vi phạm khoản 8 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ và khoản 6, Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b, khoản 2, Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b, khoản 2, Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[4] Về tính chất của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng con người, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, bị cáo điều khiển phương tiện xe mô tô biển kiểm soát 98E1-696.41 khi đã sử dụng rượu bia, không làm chủ tốc độ và đi không đi đúng phần đường dẫn đến va chạm với ông Nguyễn Đức H2 đang đi bộ sang đường, hậu quả làm ông V chết. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng đối với bị cáo một hình phạt theo Bộ luật Hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy:

[5.1] Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn V có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

[5.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52- Bộ luật Hình sự.

[5.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; bị cáo đã khắc phục được một phần thiệt hại cho gia đình bị hại, bị hại cũng có một phần lỗi. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[6] Về mức hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra cái chết cho bị hại, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn giao thông. Hơn nữa tình hình tội phạm về vi phạm giao thông đường bộ có nồng độ cồn trong thời gian qua trên địa bàn diễn biến ngày càng phức tạp. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải xử lý nghiêm bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đảm bảo tác dụng giáo dục pháp luật và phòng ngừa chung.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5, Điều 260- Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Tuy nhiên, căn cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án xác định nghề nghiệp của bị cáo là làm ruộng. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 30.000.000 đồng, người đại diện của bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiếp số tiền 180.000.000 đồng, bao gồm tiền: Viện phí, tiền thuốc; tiền tổn hại sức khỏe, tổn thất tinh thần; tiền mất thu nhập trong thời gian nằm viện của người chăm sóc. Bị cáo và người đại diện của bị hại không thống nhất, thỏa thuận được số tiền bồi thường và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, người đại diện của bị hại là bà Trần Thị C sau khi được Hội đồng xét xử giải thích về các khoản được bồi thường và các hình thức bồi thường theo quy định của pháp luật thì người đại diện của bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho những khoản tiền như sau: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa (tiền thuốc có hóa đơn + tiền xe đi lại); Chi phí cho việc bà Trần Thị C bị mất thu nhập trong thời gian chăm sóc ông H2 nằm viện; Chi phí hợp lý cho việc mai táng; Tiền tổn thất về tinh thần do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Bà C không đưa ra chi phí cho từng khoản tiền cụ thể, yêu cầu bị cáo bồi thường theo quy định pháp luật. Căn cứ Điều 48- Bộ luật Hình sự; Điều 589, Điều 590; Điều 591, Điều 601- Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của

Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải bồi thường cho người đại diện của bị hại là bà Trần Thị C các khoản tiền sau:

Thứ nhất, đối với chi phí cho việc chữa trị và hỗ trợ cho việc chữa trị, người đại diện của bị hại đã giao nộp toàn bộ hóa đơn chữa trị của ông H2 và tiền xe đi lại. Sau khi trừ khoản tiền được bảo hiểm thanh toán thì chi phí thực tế cho việc chữa trị phải thanh toán là 8.577.580 đồng, tiền xe vận chuyển là 9.600.000 đồng, tổng cộng là 18.177.580 đồng.

Thứ hai, đối với chi phí cho việc bà Trần Thị C bị mất thu nhập trong thời gian chăm sóc ông H2 nằm viện. Theo xác nhận của nơi làm việc của bà Trần Thị C thì thu nhập hàng tháng của bà C là 8.882.600đồng/tháng. Theo các giấy ra viện thì ông C1 phải điều trị tại các cơ sở y tế, nhập viện từ ngày 31/3/2024 đến ngày 01/4/2024 thì ra viện, tổng cộng là 01 ngày. Do vậy, chi phí cho việc bà V2 bị mất thu nhập được tính là: 8.882.600đồng / 30 ngày x 01 ngày = 296.087 đồng.

Thứ ba, chi phí hợp lý cho việc mai táng, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của người đại diện cho bị hại, buộc bị cáo phải bồi thường các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hoả táng nạn nhân theo thông lệ chung là: 24.500.000 đồng.

Thứ tư, đối với khoản tiền bồi thường tổn thất về tinh thần do hành vi của bị cáo gây ra. Theo quy định tại khoản 2 Điều 591- Bộ luật Dân sự thì mức bồi thường không quá 100 tháng lương cơ sở. Hội đồng xét xử xét thấy, nguyên nhân xảy ra va chạm là do Nguyễn Văn V đã sử dụng rượu bia, không làm chủ tốc độ và đi không đi đúng phần đường dẫn đến va chạm với ông Nguyễn Đức H2. Hiện nay các con của ông H2 đều đã trưởng thành, ông H2 không phải nuôi dưỡng ai. Do vậy Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải bồi thường cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị hại tiền tổn thất tinh thần tương đương 80 tháng lương tối thiểu (2.340.000 đồng / tháng) = 187.200.000đồng là phù hợp và đúng theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này, bị hại ông Nguyễn Đức H2 cũng có một phần lỗi khi đi bộ qua đường không đảm bảo an toàn giao thông đường bộ. Hội đồng xét xử xác định mức độ lỗi của ông Nguyễn Văn V là 30%. Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì người bị thiệt hại không được bồi thường thiệt hại tương ứng với phần lỗi đó. Như vậy, tổng số tiền bị cáo phải bồi thường là (18.177.580 đồng + 296.087 đồng + 24.500.000 đồng + 187.200.000đồng) x 70% = 161.121.567 đồng. Xác nhận bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 30.000.000 đồng. Bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho người đại diện của bị hại số tiền còn lại là 131.121.567 đồng.

Đối với thiệt hại về sức khỏe và tài sản của bị cáo Nguyễn Văn V, do bị cáo không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. Anh Luân Văn H3 là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98E1-696.41 không có yêu

cầu Vụ bồi thường thiệt hại của xe mô tô bị hư hỏng sau tai nạn nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe VISION, màu sơn đỏ nâu, biển kiểm soát 98E1-696.41 cho anh Luân Văn H3, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 942/QĐ-CSĐT trả lại cho chủ sở hữu anh Luân Văn H3 là có căn cứ. Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số AL438663 mang tên Nguyễn Văn V không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[10] Về những vấn đề khác: Trong vụ án này, ông H3 cũng có một phần lỗi khi đi bộ qua đường không đảm bảo an toàn giao thông đường bộ đã vi phạm quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 32 Luật Giao thông đường bộ. Tuy nhiên, sau khi bị tai nạn thì ông H3 đã chết nên không đặt ra xem xét, xử lý.

[11] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị của đại diện Viện kiểm tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người đại diện của bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 260; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, khoản 3, Điều 106, Điều 136, Điều 292, Điều 293, Điều 331, Điều 333- Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V ......... tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn V.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải bồi thường cho người đại diện của bị hại (do bà Trần Thị C đại diện theo ủy quyền) số tiền 161.121.567 đồng. Xác nhận bị cáo đã bồi thường 30.000.000 đồng. Bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho người đại diện của bị hại số tiền còn lại là 131.121.567 đồng.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, đến thời hạn thanh toán, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành án hoặc thi hành án không đầy đủ thì phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2, Điều 468- Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tiền trên số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán.

3. Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo Nguyễn Văn V: 01 (một) Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số AL438663 mang tên Nguyễn Văn V (vật chứng được bàn giao theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02 tháng 8 năm 2024 giữa Công an huyện L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 6.556.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, người đại diện của bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9- Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30- Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo, người đại diện của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Văn Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 110/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 21 giờ 42 phút ngày 31/3/2024, tại Km6+650, tỉnh lộ 290, thuộc địa phận thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Văn V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe VISION, màu sơn đỏ nâu, biển kiểm soát 98E1-696.41 đi hướng xã P đi B trong tình trạng hơi thở có nồng độ cồn là 0,108mg/l khí thở. Lúc này phát hiện thấy phía trước có ông Nguyễn Đức H2 đang đi bộ từ bên phải sang bên trái đường (hướng Phong Vân đi xã B), Vụ không giảm tốc độ mà điều khiển xe đi sang phần đường bên trái theo chiều đi nên xe mô tô do H2 điều khiển đã va chạm với ông H2. Hậu quả ông H2 chết, thiệt hại về tài sản là 2.800.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger