|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỂ TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 110/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 21 - 12 - 2023
“ Tranh chấp Ly hôn và nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỂ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Trần Huy Tùng.
- 2/ Bà Hà Ngân Kim Tới.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Dũng – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 307/2023/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp Ly hôn và nuôi con". Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Thạch Thị R, sinh năm 1993.
- Địa chỉ: Ấp L, xã Đ, huyện T, tỉnh S.
- - Bị đơn: Ông Sơn L, sinh năm 1988.
- Địa chỉ: Ấp L, xã Đ, huyện T, tỉnh S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn bà Thạch Thị R trình bày:
Bà Thạch Thị R với ông Sơn L kết hôn với nhau vào năm 2013. Có đăng ký kết hôn và được UBND xã Đ 2 cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 177 ngày 17/12/2013.
Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống thường xuyên cãi vả. Cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc.
Thời gian chung sống ông bà có hai con tên Sơn Quàynh N, sinh ngày 21/11/2014 và Sơn Quỳnh G, sinh ngày 24/5/2020. Hiện hai con đang sống cùng bà R.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Nay bà Thạch Thị R yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Sơn L.
- - Về con chung: Yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con. Không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 06 tháng 12 năm 2023, bị đơn ông Sơn L trình bày:
Ông Sơn L thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị R về tình trạng hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay ông Sơn L và bà Thạch Thị R đều vắng mặt nhưng các đương sự có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn bà Thạch Thị R vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu Toà án cho ly hôn với ông Sơn L.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Thạch Thị R với ông Sơn L là hôn nhân hợp pháp (hai người có đăng ký kết hôn). Trước khi kết hôn hai người có tìm hiểu nhau trước, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng một thời gian sau, thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng, hiện nay hai người đã ly thân, thời gian ly thân vợ chồng không ai tới lui, quan tâm, chăm sóc nhau. Xét thấy tình trạng hôn nhân của hai người đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó bà R yêu cầu được ly hôn với ông L và ông L cũng đồng ý ly hôn theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Hai cháu Sơn Quỳnh N1, sinh ngày 21/11/2014 và Sơn Quỳnh G, sinh ngày 24/5/2020. Hiện các con đang sống cùng với bà R. Bà R yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông L phải cấp dưỡng nuôi con và ông L cũng đồng ý. Như vậy phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Thạch Thị R với ông Sơn L thống nhất không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà R yêu cầu nên bà R phải chịu theo luật định.
[7] Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 55; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
Ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Thị R với ông Sơn L thống nhất thuận tình ly hôn.
- - Về con chung: Bà Thạch Thị R được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai cháu Sơn Quỳnh N1, sinh ngày 21/11/2014 và Sơn Quỳnh G, sinh ngày 24/5/2020. Ông L không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà không ai được quyền ngăn cản. Ông L không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của bà R.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Bà Thạch Thị R với ông Sơn L thống nhất không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.
- - Về án phí: Bà Thạch Thị R phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân. Bà R được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0011400 ngày 01/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T . Như vậy bà R đã nộp xong án phí.
Án sơ thẩm được xét xử công khai báo cho các đương sự biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Hoàng |
Bản án số 110/2023/HNGĐ-ST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỂ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 110/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỂ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà R yêu cầu ly hôn với ông L
