|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 110/2024/HS-ST Ngày 27-8-2024. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Phương Hạnh
2. Bà Nguyễn Thị Thọ
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Lê Anh Thơ– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị N- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024; tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 112/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024, đối với:
Bị cáo: Nguyễn Đình S, sinh năm: 1984, tại Thanh Hoá; nơi cư trú: Tổ C, ấp P, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình S1, sinh năm: 1961 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1959, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình 2 anh em; vợ Thiều Thị H1, sinh năm 1983, bị cáo có 03 con, sinh các năm 2013, 2015, 2018.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1966, địa chỉ: Khu phố H, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (đã chết)
Đại diện hợp pháp của bị hại:
- + Nguyễn Thị Hà T, sinh năm 1969; Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có đơn xin vắng mặt
- + Nguyễn Đức P, sinh năm 1993; Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có đơn xin vắng mặt
- + Nguyễn Đức H2, sinh năm 2004; Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có mặt
- + Võ Thị T1, sinh năm 1934; Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có đơn xin vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 28/3/2024, Nguyễn Đình S điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát: 60B1-162.85 lưu thông trên đường H (theo hướng từ huyện C đi thành phố B); khi đến trước trụ điện số 479CĐ1-166/28/03 trên đường H, tổ B, ấp P, xã L, thành phố B, S chuyển hướng rẽ trái vào nhà thì xảy ra va chạm với ông Nguyễn Ngọc L điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát: 72F1-932.37 lưu thông theo hướng ngược lại. Sau va chạm, Nguyễn Đình S và ông Nguyễn Ngọc L bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện B. Đến ngày 07/4/2024, ông L tử vong tại Bệnh viện B.
Qua khám nghiệm hiện trường xác định như sau:
Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông là đường H, tổ B, ấp P, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, không có chướng ngại vật, tầm nhìn không bị che khuất. Đường H là đường hai chiều, có bề rộng mặt đường là 10,30 mét, ở giữa có vạch sơn màu vàng đứt quãng, chia làm hai làn đường, mỗi làn đường rộng 5,15 mét, khu vực xảy ra tai nạn ngoài khu dân cư, có đèn chiếu sáng giao thông hoạt động tốt.
Xác định điểm mốc, lề chuẩn: Tất cả các dấu vết thu được tại hiện trường giao thông được đo vào mép lề bên phải đường H theo hướng từ Bà Rịa đi C; điểm mốc được chọn là trụ điện số 479CĐ1-166/28/03 đặt tại lề đường H đối diện lề chuẩn, cách lề đường 2,5 mét.
Đánh số thứ tự vị trí phương tiện, tang vật, dấu vết như sau:
- Vết dung dịch do phương tiện liên quan vụ tai nạn để lại
- Vết cày (1)
- Vết cày (2)
- Vết máu nạn nhân
- Xe mô tô biển kiểm soát 72F1- 932.37
- Xe mô tô biển kiểm sát 60B1-162.85
Mô tả vị trí phương tiện, dấu vết:
- Vết dung dịch (dầu nhớt) do phương tiện liên quan đến vụ tai nạn có màu nâu xám: dạng tia, kích thước 6,2 x 1,30 mét, chiều hướng từ Bà Rịa đi C. Điểm đầu cách lề chuẩn là 4,10 mét, điểm cuối cách lề chuẩn là 3,20 mét.
- Vết cày (1) do phương tiện liên quan vụ tai nạn để lại trên mặt đường: là vết cày đứt quãng dài 10,10 mét chiều dọc theo lề chuẩn hướng từ Bà Rịa đi C. Điểm đầu vết cày cách lề chuẩn 4,20 mét, điểm cuối vết cày nằm dưới xe mô tô biển kiểm soát 60B1-162.85, cách lề chuẩn 5,50 mét.
- Vết cày (2) do phương tiện liên quan đến vụ tai nạn để lại trên mặt đường H: là vết cày đứt quãng, dài 6,60 mét có chiều dọc theo lề chuẩn hướng từ Bà Rịa về C; điểm đầu vết cày cách lề chuẩn 4,40 mét, điểm cuối vết cày nằm dưới xe mô tô biển kiểm soát 72F1-932.37, cách lề chuẩn 4,20 mét.
- Vết máu nạn nhân để lại trên mặt đường H, có màu đỏ, kích thước 1,50 x 0,2 mét, hình thành do chảy lan. Vết máu cách lề chuẩn 6,0 mét, cách đầu vết cày (10 là 6,10 mét, cách tâm đầu trục bánh xe mô tô biển kiểm soát 72F1-932.37 là 3,10 mét.
- Vị trí xe mô tô biển kiểm soát 72F1-932.37: sau tai nạn xe nằm ngả, nghiêng trên mặt đường H phương dọc theo lề chuẩn, đầu xe hướng về phía C, đuôi xe hướng về phía Bà Rịa, hình chiếu tâm đầu trục bánh trước của xe cách lề chuẩn 4,0 mét, cách điểm mốc 9,70 mét, hình chiếu tâm đầu trục bánh sau của xe cách lề chuẩn 4,30 mét.
- Vị trí xe mô tổ biển kiểm soát 60B1-162.85: sau tai nạn xe nằm ngả, nghiêng bên trái trên mặt đường H, phương dọc theo lề chuẩn, đầu xe hướng về phía huyện C, đuôi xe hướng về Bà Rịa. Hình chiếu tâm đầu trục bánh trước của xe cách lề chuẩn 5,70 mét, cách điểm mốc 7,70 mét. Hình chiếu tâm đầu trục bánh sau của xe cách lề chuẩn 5,30 mét.
Vùng va chạm: nằm trên đường H, chiều đường từ Bà Rịa đi C.
Hình chiếu vuông góc vùng va chạm đo đến lề chuẩn là 4,60 mét.
Hình chiếu vuông góc vùng va chạm đo đến điểm mốc là 21,60 mét.
Hình chiếu vuông góc vùng va chạm đo đến vết dung dịch là 0,7 mét
Hình chiếu vuông góc vùng va chạm đo đến vết cày 1 là 6,10 mét.
Khám nghiệm phương tiện Xe mô tô biển số 60B1-162.85
Xe không có gương chiếu hậu hai bên; Tay nắm lái hai bên bị cong, vênh biến dạng theo hướng từ trên xuống dưới; Ốp nhựa tay nắm lái bên trái có dấu vết ma sát, trầy có kích thước 10 x 3 cm. Cung chắn gió bên trái, bên phải, mặt nạ phía trước của xe bể, vỡ hoàn toàn, rời khỏi vị trí ban đầu; Bộ phận giảm xóc bên phải, phía trước cách đất 32 cm có dấu vết ma sát, mài mòn kim loại kích thước 1,5 x 1cm; Mặt ngoài đùm bánh xe phía trước bên phải có dấu vết ma sát, bám dính chất màu đen kích thước 7 x 8cm; Vành xe phía trước bị cong vênh, biến dạng theo hướng từ phải qua trái; Bộ phận phần lốc máy động cơ bên phải bị bể vỡ, văng mất kích thước 10 x 15cm; Bugi xe bể vỡ, cong vênh theo hướng từ trước ra sau.
Khám nghiệm phương tiện Xe mô tô biển số 72F1-932.37
Gương chiếu hậu bên phải văng mất; Mặt nạ phía trước xe bung rời khỏi vị trí ban đầu; Ốp nhựa đồng hồ của xe bị bể vỡ, rời khỏi vị trí ban đầu; Cung chắn bùn phía trước bể vỡ, văng mất; Cụm ốp nhựa cung chắn bùn, cung chắn gió bên trái, bên phải bể vỡ, bung rời khỏi vị trí ban đầu; Trục bánh xe phía trước bên phải bị cong vênh; Giảm xóc phía trước bên trái bị gãy rời khỏi trục bánh xe; Giảm xóc phía trước bên phải có vết ma sát bám dính chất màu đen, kích thước 15 x 3cm; Vành bánh xe phía trước cong vênh biến dạng, vị trí 1: kích thước 20 x 2cm, vị trí 2 kích thước 30 x 5cm; Cần đạp phanh bên phải bị cong, vênh hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải; Gác để chân phía trước bên phải bị cong vênh biến dạng hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải; Gác để chân phía sau, bên trái gãy văng mất.
Về kết quả trưng cầu giám định:
Đối với phương tiện
Tại bản Kết luận giám định số: 138/KL-KTHS-DVVC ngày 10 tháng 05 năm 2024 của Phòng K1 (PC09) Công an tỉnh B, kết luận như sau:
- Dấu vết hằn xước mất kim loại tại phía trước trục bánh trước; dấu vết vỡ đầu dưới giảm xóc trước, bên phải, ở xe mô tô 72F1-932.37, có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết hằn mất kim loại tại phía trước giảm xóc trước, bên phải, ở xe mô tô biển kiểm soát 60B1-162.85, có chiều từ trước về sau.
- Dấu vết trượt xước bám dính chất màu đen tại mặt ngoài đầu ống giảm thanh; dấu vết biến dạng và bám dính chất màu đen tại khung kim loại và phía trước vỏ động cơ; dấu vết cong về sau và trượt xước bám dính chất màu đen tại cần đạp phanh và khung gác để chân trước, bên phải ở xe mô tô biển kiểm soát 72F1-932.37, có chiều từ trước về sau, từ trong ra ngoài, phù hợp với dấu vết gãy, vỡ biến dạng tại: bugi, pát kim loại, vỡ phía trước vỏ động cơ, bên phải, ở xe mô tô biển kiểm soát 60B1- 136.85, có chiều hướng từ trước về sau, từ phải sang trái.
- Không tiến hành giám định tốc độ của xe mô tô biển số 72F1-932.37 và xe mô tô biển số 60B1-162.85 ngay tại thời điểm xảy ra va chạm
Tại Kết luận giám định tử thi số: 129/KL-KTHS-PY ngày 06 tháng 05 năm 2024 của Phòng K1 (PC09) Công an tỉnh B đối với tử thi Nguyễn Ngọc L, kết luận:
- Các kết quả chính:
- Kết quả khám nghiệm: Xây sát da thái dương trái, đã đóng mài, kích thước 5cm x 3cm. Xây sát da thái dương phải, đã đóng mài, kích thước 2cm x 1cm. Xây sát da trán trái, đã đóng mài, kích thước 1cm x 1cm. Xây sát da gò má trái, đã đóng mài, kích thước 4cm x 1cm. Gãy xương gò má hai bên. Xây sát da rải rác quanh miệng, đã đóng mài. Tụ máu dưới da đầu vùng thái dương-đỉnh hai bên. Tụ máu trong cơ thái dương hai bên. Nứt sọ thái dương trái, chiều dài 7cm. Xuất hiện dưới nhện vùng thái dương-đỉnh phải. Màng não phù nề, sung huyết. Não phù nề sung huyết.
- Kết quả xét nghiệm, giám định khác: Không.
- Kết luận:
- Kết luận nguyên nhân chết: Nguyễn Ngọc L chết do chấn thương sọ não.
- Kết luận khác: Vật tác động gây chết là vật tày diện tiếp xúc rộng, tác động trực tiếp vào vùng đầu cơ thể nạn nhân theo chiều từ trái sang phải.
Tại hồ sơ bệnh án lưu cấp cứu của bệnh viện B vào lúc 20 giờ 33 phút ngày 28/3/2024, ghi nhận ông L có nồng độ cồn trong máu là 2,11 g/l.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Đình S khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 28/3/2024, S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60B1-162.85 lưu thông trên đường H để đi về nhà theo hướng từ huyện C về thành phố B. Khi đến khu vực gần nhà, S dừng xe sát lề đường bên phải rồi quan sát. Sau khi quan sát thấy có xe lưu thông theo chiều ngược lại nhưng khoảng cách rất xa nên S đã điều khiển xe mô tô rẽ trái, sang đường để vào nhà. Khi chạy đến giữa làn đường thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 72F1-932.37 do ông Nguyễn Ngọc L điều khiển trên đường H, theo chiều từ thành phố B về huyện C.
Sau va chạm, S được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện B, rồi được chuyển đến bệnh viện C để tiếp tục điều trị. Hậu quả, S bị sai khớp háng (trật khớp háng phải); Gãy xương ổ cối (vỡ bờ sau ổ cối phải); Sai khớp ngón tay (trật khớp liên đốt gần ngón III bàn tay phải); Tổn thương ổ của não (xuất huyết ít trong bề quanh củ não sinh tư phải). Qua xét nghiệm, không có nồng độ cồn trong máu.
Nguyên nhân chính xảy ra tai nạn là do lỗi của Nguyễn Đình S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60B1-162.85 khi chuyển hướng không đảm bảo an toàn cho phương tiện khác nên đã xảy ra va chạm với xe mô tô do Nguyễn Ngọc L điều khiển lưu thông theo hướng ngược lại. Hậu quả, ông Nguyễn Ngọc L tử vong. Hành vi của Nguyễn Đình S đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ.
Điều 15 Luật giao thông đường bộ quy định về chuyển hướng xe:
- Khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ.
- Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.”
- Việc thu giữ vật chứng, tài liệu liên quan và xử lý:
Xe mô tô biển số 72F1- 932.37, nhãn hiệu Honda, loại Future Fi, màu sơn đen, số máy: JC90E0372104, số khung RLHJC765XNY345990, qua tra cứu do Đoàn Xuân T2, địa chỉ: S, X, C là chủ sở hữu. Qua làm việc ông T2 khai ông đã bán xe nhưng không nhớ cụ thể bán cho ai. Ông không có yêu cầu gì. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho gia đình ông Nguyễn Ngọc L.
Xe mô tô biển số 60B1-162.85, số máy: JC43E1599249, số khung: RLHJC4312BY057697. Qua tra cứu do anh Hà Trung K, địa chỉ: 1 tổ H, khu phố C, T, B, Đồng Nai là chủ sở hữu. Anh K đã bán xe cho Nguyễn Đình S là em vợ của anh K. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho bị cáo S.
- Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo đã hỗ trợ cho gia đình ông Nguyễn Ngọc L tổng số tiền 68.000.000 đồng (Sáu mươi tám triệu đồng). Gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin bãi nại cho bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số 119/CT-VKS ngày 05 - 8 - 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên giữ quyền công tố sau khi tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, xét xử vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, gia đình bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo, nguyên nhân dẫn đến tai nạn một phần do bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị mức án đối với Nguyễn Đình S từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Bị cáo thành khẩn khai báo, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với hiện trường vụ án, kết quả khám nghiệm tử thi, kết quả khám nghiệm phương tiện, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 28/3/2024, Nguyễn Đình S điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát: 60B1-162.85 lưu thông trên đường H (theo hướng từ huyện C đi thành phố B); khi đến trước trụ điện số 479CĐ1-166/28/03 trên đường H, tổ B, ấp P, xã L, thành phố B, S chuyển hướng rẽ trái vào nhà nhưng không chú ý nhường đường cho xe đi ngược chiều nên xảy ra va chạm với xe mô tô biển kiểm soát: 72F1-932.37 do ông Nguyễn Đức L1 điều khiển lưu thông theo hướng ngược lại. Hậu quả: Nguyễn Đình S bị thương; Nguyễn Ngọc L bị thương sau đó tử vong tại Bệnh viện B ngày 07/4/2024, do đó hành vi của S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, xét xử vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại, gia đình bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo nên xem xét áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho người khác. Vì vậy cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
Hành vi vi phạm của bị cáo là lỗi vô ý. Nguyên nhân dân đến tai nạn một phần do một phần lỗi của bị hại điều khiển xe mô tô biển số 72F1-932.37 nhưng không chú ý quan sát, sử dụng rượu bia khi thanm gia giao thông dẫn đến va chạm với xe của bị cáo.
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có nhân thân tốt, là lao động chính trong gia đình, có nơi cư trú rõ ràng, gia đình có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật, bị cáo đã bồi thường theo yêu cầu của gia đình bị hại, gia đình bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo; bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ quy định ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ quy định Điều 65 Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị quyết 01/2022 NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân ân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời cũng thể hiện sự nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
[6] Hình phạt bổ sung: Hành vi vi phạm của bị cáo là lỗi vô ý nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại đã tự thỏa thuận về phần trách nhiệm dân sự, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng: Xe mô tô biển số 72F1- 932.37, nhãn hiệu Honda, loại Future Fi, màu sơn đen, số máy: JC90E0372104, số khung RLHJC765XNY345990, qua tra cứu do Đoàn Xuân T2, địa chỉ: S, X, C là chủ sở hữu. Qua làm việc ông T2 khai ông đã bán xe nhưng không nhớ cụ thể bán cho ai. Ông không có yêu cầu gì. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho gia đình ông Nguyễn Ngọc L là phù hợp.
Xe mô tô biển số 60B1-162.85, số máy: JC43E1599249, số khung: RLHJC4312BY057697. Qua tra cứu do anh Hà Trung K, địa chỉ: 1 tổ H, khu phố C, T, B, Đồng Nai là chủ sở hữu. Anh K đã bán xe cho Nguyễn Đình S là em vợ của anh K. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho bị cáo là phù hợp.
[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình S 12 (mười hai) tháng tù nhưng được hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án 27 tháng 8 năm 2024.
Giao bị cáo Nguyễn Đình S cho Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện thủ tục theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Đình S cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên theo quy định của luật Thi hành án hình sự thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Đình S phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp đang trong thời giai thử thách mà bị cáo Nguyễn Đình S phạm tội mới, thì Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Đình S phải chấp hành hình phạt của bản án trước và Tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật hình sự.
[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Đình S phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Dung |
Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 110/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình S
