Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/DS- PT

Ngày: 21/5/2024

“Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Quyết.

Các thẩm phán: Bà Trần Thị Hà

Bà Phạm Thị Chuyền

Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Đình Đức - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Bà Ngô Thị Vân Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 21/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2024/TLPT- DS ngày 24 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 69/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 99/2024/QĐ-PT ngày 26/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 135/2024/QĐ- PT ngày 24/4/2024 giữa:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1976 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn E, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Bà Nguyễn Thị T ủy quyền cho bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1947 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Đỗ Thị B, sinh năm 1976 (Vắng mặt).
    Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
  2. Chị Đỗ Thị T1, sinh năm 1979 (Vắng mặt).
    Địa chỉ: Thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
  3. Chị Đỗ Thị T2, sinh năm 1981 (Vắng mặt).
    Địa chỉ: Thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
  4. UBND huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
    Do ông Huỳnh Anh T3 – Phó trưởng phòng Tài nguyên và môi trường huyện Y đại diện theo ủy quyền.
  5. UBND xã A, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
    Do ông Bùi Xuân C - Chủ tịch UBND xã A là đại diện theo pháp luật.
    Đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị Như H – Công chức địa chính xã A, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
  6. Ông Vũ Văn C1, sinh năm 1963.
  7. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964.
  8. Chị Đỗ Thị T4, sinh năm 1984;
    Cùng địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
  9. Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1981.
    Địa chỉ: Thôn E, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Người kháng cáo: bị đơn bà Nguyễn Thị K

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T do bà Nguyễn Thị N đại diện theo ủy quyền trình bày:

Bà là chủ sử dụng thửa đất số 2943, tờ bản đồ số 20 diện tích 178m², địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã A, huyện Y, tỉnh Bắc Giang được UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định số 306/QĐ-UBND ngày 11/4/2012, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH00146. Trong quá trình sử dụng đất do bà không ở nhà nên bà Nguyễn Thị K đã lấn chiếm đất của gia đình bà, xây trụ cổng lên phần đất của gia đình bà. Gia đình hai bên đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng không đạt kết quả. Diện tích bà K lấn chiếm của gia đình bà khoảng 54m². Nay bà khởi kiện yêu cầu bà K phải trả lại cho bà diện tích đất lấn chiếm là 54m².

Tại bản tự khai ngày 27/10/2021, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa bà Nguyễn Thị K trình bày:

Về nguồn gốc thửa đất: Gia đình bà sinh sống trên thửa đất từ năm 1946 không có tranh chấp hay điều tiếng gì. Năm 2000 gia đình bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sử dụng đất ổn định cho đến nay. Đối với diện tích đất của bà T có nguồn gốc là đất của ông Q, bà N1 chuyển nhượng cho ông T6 là bố bà T, sau đó ông T6 tặng cho bà Nguyễn Thị T. Năm 2009, địa phương có mở rộng đường giao thông và vận động người dân có đất ở ven đường hiến đất để làm đường, ông Q có hiến diện tích đất 15m² trong đó chiều sâu vào đất là 1m và chiều dài bám đường giao thông là 15m nên diện tích đất không đù theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Tuy nhiên, sau đó ông Q vẫn chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T6 mà không trừ đi phần đất đã hiến trước đó để làm đường. Do vậy, hiện nay đất của bà N thiếu là do làm đường, gia đình bà không lấn chiếm đất của bà K.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/5/2022 (bút lục 121) chị Đỗ Thị T1 trình bày:

Chị là con đẻ của bà Nguyễn Thị K, chị kết hôn với anh Hoàng Văn T7 năm 1999, năm 2000 chị chuyển khẩu vào chung sống tại thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk cho đến nay. Chị không biết diện tích đất mang tên hộ bà Nguyễn Thị K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ khi nào, thửa đất là tài sản của bà K, chị không có công sức đóng góp gì trong việc hình thành, tôn tạo và phát triển các tài sản trên đất. Do chị chuyển vào trong Đắk Lắk sinh sống từ lâu nên việc chuyện đất đai của bà K chị không được biết và chị không có ý kiến gì. Chị đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, chị xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/6/2022 (bút lục 127) chị Đỗ Thị T2 trình bày:

Chị là con đẻ bà Nguyễn Thị K, chị kết hôn năm 2005 sau đó chuyển vào sinh sống cùng chồng tại thôn P, xã M, h uyện N, tỉnh Ninh Thuận. Diện tích bà K đang sử dụng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ khi nào thì bà không biết, chị không có công sức gì đối với việc hình thành, tôn tạo, phát triển tài sản, chị không có công sức đóng góp gì đối với diện tích đất và tài sản trên đất của bà K. Nay bà T khởi kiện bà K, chị không có ý kiến gì, chị đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, chị xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại biên bản lấy lời khai chị Đỗ Thị B trình bày:

Chị là con gái bà Nguyễn Thị K, chị đã nhận được thông báo của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế về việc bà T khởi kiện bà K về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, chị có ý kiến như sau: Gia đình chị giáp với thửa đất của bà Nguyễn Thị T. Tuy nhiên, thửa đất của bà T đã chuyển nhượng cho bà N, ông C1. Chị kết hôn năm 1993 trước thời điểm bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, chị xác định chị không có liên quan và không có quyền lợi gì trong vụ án này. Chị xác định diện tích đất của gia đình chị sử dụng ổn định từ trước năm 1993 đến nay không có tranh chấp với ai. Chị không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T, chị xin vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc và trong các phiên tòa xét xử vụ án.

Ông Nguyễn Văn T5 trình bày:

Ông là chồng bà Nguyễn Thị T, ông có được biết ông Nguyễn Văn T8 là bố của bà Nguyễn Thị T có tặng cho bà T thửa đất có diện tích 178m², thửa đất của bà T có tự cận như sau:

  • Cạnh tiếp giáp với nhà bà Ngô Thị T9 dài: 16 m
  • Cạnh tiếp giáp với nhà bà Nguyễn Thị K dài: 16 m
  • Cạnh tiếp giáp với đường ngõ vào cổng nhà bà Nguyễn Thị K dài: 9,5 m
  • Cạnh tiếp giáp với mặt đường liên huyện dài: 15 m

Bà T được UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số thửa: 2943. Tờ bản đồ số 20 Diện tích: 178 m². Trong đó: 178 m² đất ở. Thời hạn sử dụng: Lâu dài.

Ông xác định, thửa đất trên là tài sản riêng của bà Nguyễn Thị T, sau khi nhận tặng cho đất của ông Nguyễn Văn T8 tôi và bà T không có thỏa thuận gì về việc hợp nhất thửa đất 2943. Tờ bản đồ số 20 Diện tích: 178 m² vào tài sản chung của vợ chồng ông. Bà T sống cùng ông ở Lạng Sơn nên không có thời gian về thăm nom đất dẫn đến việc bà K lấn chiếm. Nay bà T khởi kiện bà K ông đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

* Ông Vũ Văn C1 và bà Nguyễn Thị N trình bày:

Gia đình ông, bà có thửa đất và sinh sống ở đối diện với phần đất của bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị K. Hiện tại thửa đất số 2933, tờ bản đồ số 20 diện tích 178m² mang tên chủ sử dụng bà Nguyễn Thị T là tài sản riêng của bà Nguyễn Thị T, hiện nay bà T chưa làm thủ tục công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất đối với thửa đất trên với bất cứ cứ nhân nào khác. Do vậy, bà T đang là chủ sử dụng hợp pháp của thửa đất trên, Việc bà T khởi kiện bà K là đúng quy định của pháp luật. Chính vì vậy, tôi đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, ông, bà không có liên quan gì đến vụ án trên. Ông, bà không có ý kiến và không có yêu cầu gì.

* Chị Đỗ Thị T4 trình bày:

Chị là con gái của bà Nguyễn Thị K, chị đã nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế. Gia đình chị giáp thửa đất của bà Nguyễn Thị T, diện tích đất của bà T theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 178m² nhưng trước đây khoảng năm 2009 nhà nước có chính sách mở rộng đường giao thông, ông Q là chủ đất cũ đã hiến đất có chiều rộng 1m chạy dài theo mặt đường nên diện tích hiện nay của bà T chỉ còn là 163m² như biên bản hòa giải thành ngày 11/10/2018. Chị xác định gia đình chị không lấn chiếm đất của bà T, chị không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T, chị đồng ý với toàn bộ quan điểm, ý kiến của bà Nguyễn Thị K và xin vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và phiên tòa xét xử vụ án trên.

Tại văn bản số 1399/CV-UBND ngày 30/12/2022 đại diện UBND xã A, huyện Y, tỉnh Bắc Giang trình bày:

Thứ nhất: Về nguồn gốc thửa đất số 2943, tờ bản đồ số 20 diện tích 178m², địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã A, huyện Y, tỉnh Bắc Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ bà Nguyễn Thị T, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 713454, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH 00146, Quyết định số 306/QĐ-UBND ngày 11/4/2012 là đất ông Q mua lại đất của Hợp tác xã cũ, trước khi chuyển nhượng đất cho ông T8, ông Q chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. UBND xã không nắm được Thửa đất ban đầu có diện tích bao nhiêu m² theo bản đồ đo đạc do bản đồ xanh đo vẽ năm 1988 hiện đang lưu trữ tại UBND xã bị rách nát nhiều chỗ và không thể đọc được thông tin thửa đất. Còn theo bản đồ đo đạc cấp giấy năm 2000 hiện đang lưu trữ tại UBND xã thì thửa đất trên có diện tích là 178 m². Kể từ khi cấp giấy năm 2000 đến năm 2018 hai hộ sử dụng ổn định không có tranh chấp. Ủy ban nhân dân xã không nhận được bất kỳ văn bản, đơn thư nào đề nghị giải quyết tranh chấp về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay tranh chấp liên quan giữa hai hộ bà T và bà K.

Quá trình sử dụng đất việc ông Q là chủ sử dụng đất cũ có hiến đất làm đường giao thông hay không, hiến bao nhiêu, thời gian nào, vị trí nào thì UBND xã không có tài liệu nào lưu trữ ở thôn và ở xã M thể hiện việc ông Quảng hiến đất. Thời điểm ông T8, bà T sử dụng không hiến đất để mở rộng đường giao thông. UBND xã không có tài liệu nào lưu trữ ở thôn và ở xã M thể hiện việc hiến đất của ông T8, bà T.

Đối với chỉ giới hành lang giao thông: Do thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu năm 2000 cho hộ ông Nguyễn Văn T8 không lưu trữ được các văn bản có liên quan nên UBND xã không xác định được quy định hành lang an toàn giao thông cụ thể là bao nhiêu đối với trục đường có thửa đất tranh chấp.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 18/4/2023, Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với diện tích đất của hộ bà Nguyễn Thị T thuộc thửa đất số 2943, tờ bản đồ số 20, địa chỉ thửa đất thôn A, xã A, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ xác định thửa đất của bà T có các cạnh phía tây Nam dài 15m, phía Tây Bắc dài 16m, phía Đông Bắc dài 16m và phía Đông Nam dài 9,5m nhưng tổng diện tích đất theo kết quả xem xét thẩm định được đo đạc bằng máy là 182,6m² tăng lên 4,6m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ bà Nguyễn Thị T trong khi các cạnh tiếp giáp với các hộ liền kề không thay đổi. Đối với diện tích đất chênh lệch tăng nguyên nhân có thể là do sai số đo đạc, giấy chứng nhận đã cấp năm 2000 bản đồ đo vẽ thủ công nên độ chính xác không cao.

Tại văn bản trình bày ý kiến đại diện UBND huyện Y trình bày:

Ngày 20/12/2000, hộ ông Nguyễn Văn T8 được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ lần đầu tại thửa đất số 2943 tờ bản đồ số 20 diện tích 178m² đất ở, thời hạn sử dụng lâu dài. Ngày 24/11/2011 ông Nguyễn Văn T8 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị T thửa đất trên; căn cứ kết quả kiểm tra xác nhận của Văn phòng đăng ký quyền sử đất, ngày 06/4/2012 Phòng TN&MT ban hành Tờ trình số 184/TTr-TNMT trình UBND huyện Y thu hồi GCNQSDĐ cấp cho ông Nguyễn Văn T8, đồng thời cấp GCNQSDĐ cho bà Nguyễn Thị T. Ngày 11/4/2012, UBND huyện Y ban hành Quyết định số 306/QĐ-UBND về việc thu hồi và cấp GCNQSDĐ do cho, tặng, chuyển quyền sử dụng đất tại xã A.

Việc UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ đất cho bà Nguyễn Thị T là đúng quy định của pháp luật. Còn nội dung thẩm định, đo đạc của Tòa án có diện tích lớn hơn diện tích ghi trên GCNQSDĐ mà các cạnh về hình thửa cơ bản giống nhau là do sai số trong đo đạc.

Vậy đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.

Ngày 29/12/2022 và ngày 18/4/2023, Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tiến hành xem xét thẩm định và định giá tài sản đối với thửa đất số 2943, tờ bản đồ số 20 tại thôn A, xã A, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Kết quả như sau:

  1. Về đất:

Thửa đất có tứ cận tiếp giáp như sau:

  • Phía Tây Bắc giáp đường huyện lộ;
  • Phía Bắc giáp hộ bà Nguyễn Thị K;
  • Phía Nam giáp hộ bà Nguyễn Thị K;
  • Phía Tay giáp đất bà Ngô Thị T9..

Theo Quyết định số 1025/QĐ-UBND ngày 30/12/2019 về việc ban hành bảng giá đất giai đoạn 2020-2024 tỉnh Bắc Giang và Quyết định 1250/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 ban hành hệ số điều chỉnh giá đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Tgiang năm 2021 của UBND tỉnh B thửa đất có giá 1.800.000đ/ 1 m², giá đất trồng cây lâu năm 45.000đ/ 1 m².

Các tài sản trên đất căn cứ theo công văn số 1658/SXD-KT$VLXD ngày 29/6/2021 về việc công bố đơn giá bồi thường tài sản là nhà, công trình kiến trúc gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, cụ thể:

Trụ cổng xây gạch 0,29m³ (kích thước 2,379x 0,349x 0,348) giá 368.300đ

Tường xây gạch diện tích 8,096m³ có giá 3.481.200đ.

Với nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 69/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế đã quyết định:

Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 165; Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Khoản 1 Điều 3, Điều 170 Luật đất đai;

Căn cứ Điều 175, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T:

Buộc bà Nguyễn Thị K phải tháo dỡ trụ cổng có thể tích 0,29m³ trả lại phần đất lấn chiếm diện tích 0,81m² cho bà Nguyễn Thị T, cụ thể từ điểm số 2 đến điểm số 5 có chiều dài 1,12m, từ điểm số 5 đến điểm số 6 có chiều dài 1,74m, từ điểm số 7 đến điểm số 2 có chiều dài 1,07m (Có sơ đồ kèm theo).

Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án đối với các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 02/11/2023, bị đơn bà Nguyễn Thị K kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn trình bầy vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và cũng không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ nào khác để bảo vệ quyền lợi của mình.

+ Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang phát biểu:

  • Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các đương sự đã chấp hành đầy đủ các trình tự, thủ tục của BLTTDS.
  • Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị K, sửa bản án sơ thẩm.

Miễn án phí cho bà Nguyễn Thị K.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai. Tòa án xét xử vắng mặt những người này là đảm bảo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào lời khai của các đương sự, cung cấp của UBND xã A và các tài liệu, chứng cứ khác, đủ cơ sở xác định: Nguồn gốc thửa đất 2943, tờ bản đồ số 20 có diện tích 178m2, địa chỉ thửa đất thôn A, xã A, huyện Y, tỉnh Bắc Giang trước đây là của ông Nguyễn Văn Q1 mua của hợp tác xã khi hợp tác xã giải thể. Quá trình sử dụng đất, ông Q1 sử dụng thửa đất ổn định đến năm 2000, ông Q1 chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Văn T8, hộ gia đình ông Nguyễn Văn T8 đã được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26/12/2000 đối với diện tích 178m2, tứ cận các mặt tiếp giáp với các chủ sử dụng đất liền kề không thay đổi cho đến nay.

Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì hộ gia đình ông Nguyễn Văn T8 sử dụng ổn định diện tích đất và không có tranh chấp với các hộ liền kề. Năm 2012 ông T8 tặng cho con gái là bà Nguyễn Thị T thửa đất trên, bà T được UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI713454, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00146, Quyết định số 306/QĐ-UBND ngày 11/4/2012 mang tên chủ sử dụng bà Nguyễn Thị T. Về mốc giới, chiều dài các cạnh của thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện Y cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T8 ngày 26/12/2000 và ông T8 tặng cho bà T không thay đổi về số đo các cạnh.

Hộ gia đình bà Nguyễn Thị K được UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 275, tờ bản đồ số 20 diện tích 845m2, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 02109QSD Đ/500-QĐUB ngày 15/12/2000. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ gia đình bà K sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp về ranh giới với các hộ liền kề, hộ gia đình bà K xây dựng nhà và các tài sản trên đất.

Năm 2018 gia đình bà T và bà K có tranh chấp được UBND xã A tiến hành hòa giải vào ngày 11/10/2018 nhưng sau buổi hòa giải hai bên đã không thống nhất được, hộ gia đình bà K xây dựng cổng có thể tích 0,29m3 trên phần đất tranh chấp.

Đối chiếu với kết quả thẩm định tại chỗ ngày 18/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang thì phần đất tranh chấp giữa bà T và bà K có diện tích 0,81m2, trong phần diện tích tranh chấp bà K có xây dựng trụ cổng có thể tích là 0,29m3 (2,379 x 0,349 x 0,348) và phần cổng có thể tích 0,29m3 này nằm trong diện tích đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhà nước đã cấp cho bà T.

Đối với việc thửa đất số 2943, tờ bản đồ số 20 diện tích 178m2, địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã A, huyện Y, tỉnh Bắc Giang được UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị T theo quyết định số 306/QĐ-UBND ngày 11/4/2012, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH00146 nhưng khi đo đạc, thẩm định tổng diện tích đất của bà T là 182,6m2 thì tại văn bản ngày 26/9/2023 của UBND huyện Y khẳng định đối với phần diện tích đất của bà T tăng lên so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tứ cận thửa đất, chiều dài các mặt tiếp giáp không thay đổi thì diện tích đất tăng lên là do sai số về đo đạc.

Ngoài những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, phía bị đơn bà Nguyễn Thị K không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình.

Như vậy, từ phân tích ở trên có đủ cơ sở để khẳng định bà Nguyễn Thị K đã xây dựng trụ cổng và sử dụng đất lấn chiếm sang phần diện tích đất của bà Nguyễn Thị T. Do đó, không căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị K. Tuy nhiên, UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 275 nêu trên cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị K, hiện tại trên thửa đất này có bà K và chị Đỗ Thị T4 là con gái bà K đang ở. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Nguyễn Thị K phải tháo dỡ trụ cổng có thể tích 0,29m3 và trả lại diện tích đất đã lấn chiếm cho bà Nguyễn Thị T có diện tích 0,81m2 là chưa đảm bảo mà cần sửa bản án sơ thẩm, buộc bà Nguyễn Thị K và chị Đỗ Thị T4 phải tháo dỡ trụ cổng có thể tích 0,29m3 trả lại phần đất lấn chiếm diện tích 0,81m2 cho bà Nguyễn Thị T, cụ thể từ điểm số 2 đến điểm số 5 có chiều dài 1,12m, từ điểm số 5 đến điểm số 6 có chiều dài 1,74m, từ điểm số 7 đến điểm số 2 có chiều dài 1,07m (Có sơ đồ kèm theo).

[3] Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét, giải quyết các quyết định khác của bản án sơ thẩm mà không có kháng cáo, kháng nghị.

[4] Về án phí phúc thẩm: Do bà Nguyễn Thị K là người cao tuổi nên áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị K.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị K. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 69/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 165; Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Khoản 1 Điều 3, Điều 170 Luật đất đai;

Căn cứ Điều 175, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T:

Buộc bà Nguyễn Thị K và chị Đỗ Thị T4 phải tháo dỡ trụ cổng có thể tích 0,29m3 trả lại phần đất lấn chiếm diện tích 0,81m2 cho bà Nguyễn Thị T, cụ thể từ điểm số 2 đến điểm số 5 có chiều dài 1,12m, từ điểm số 5 đến điểm số 6 có chiều dài 1,74m, từ điểm số 7 đến điểm số 2 có chiều dài 1,07m (Có sơ đồ kèm theo).

  1. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị K.
  2. Về quyền thi hành án: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành, mức lãi suất được tính theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • TAND huyện Yên Thế;
  • VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • Chi cục THADS huyện Yên Thế;
  • Các đương sự;
  • Cổng thông tin điện tử của TANDTC;
  • Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Quyết

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/DS- PT ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 110/2024/DS- PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger