|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 110/2025/HS-ST Ngày 14 - 4 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
1./ Ông Phạm Cảm.
2./ Bà Phạm Thị Tuyết Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Bích Dịu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 14/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 97/2025/TLST-HS ngày 18/3/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2025/QĐXXST-HS ngày 31/3/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn Đ. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 25 tháng 6 năm 1954, tại tỉnh Quảng Nam.
Nơi cư trú: Thôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;
Nghề nghiệp: Hưu trí; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn  (Đã chết); Con bà: Công Tằng Tôn Nữ Thị Loan (Đã chết); Bị cáo vợ là Hồ Thị Y, sinh năm 1963 và có 05 người con, con lớn nhất sinh năm: 1989, con nhỏ nhất sinh năm 1998;
Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22 tháng 01 năm 2025 đến nay. Có mặt tại phiên tòa
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số A Đ, Tổ dân phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1983 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số A Đ, Tổ dân phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Đ đã có Giấy phép lái xe ô tô hạng B1 được Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 11/12/2019. Vào sáng ngày 23/7/2024, Đ điều khiển xe ô tô biển số 47A – 416.70 đi từ nhà ở thôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk để lên trung tâm thành phố B, tỉnh Đắk Lắk mua một số đồ dùng sử dụng trong gia đình. Sau đó, Đ tiếp tục đến mua sơn tại cửa hàng ở ngã tư đường H giao với đường Y, phường T, thành phố B, lúc này Đ điều khiển cho xe ô tô đỗ ở sát lề đường bên phải của đường Y theo hướng từ đường H đến đường T, thành phố B, rồi đi vào bên trong mua hàng. Đến khoảng 11 giờ 38 phút cùng ngày, sau khi mua hàng xong, Đ quay trở lại xe để đi về nhà, lúc này Đ nổ máy rồi quan sát nhanh qua gương chiếu hậu bên trái, thấy không có phương tiện nào đi gần nên quay về quan sát ở phía trước xe rồi bật đèn tín hiệu bên trái (đèn xi nhan), điều khiển cho xe ô tô vừa di chuyển về phía trước hướng về đường T, vừa chuyển hướng sang bên trái để nhập vào làn đường của đường Y với mục đích đi ra gần vạch phân chia chiều đường để đi thẳng về hướng đường T, đây là đoạn đường hai chiều thẳng, được trải nhựa bằng phẳng và có vạch sơn màu vàng phân chia hai chiều đường xe chạy. Khi Đ đang di chuyển ra để nhập vào làn đường thì chỉ quan sát về phía trước, cùng lúc này có xe mô tô biển số 47B2 – 962.50 do chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991, trú tại Tổ dân phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, chưa có giấy phép lái xe mô tô hạng A1, điều khiển, lưu thông ở phía sau cùng chiều đến, thấy xe ô tô của Đ đang bật đèn tín hiệu và đang di chuyển sang bên trái, nghĩ Đ sẽ thấy và nhường để cho chị H đi qua vì xe mô tô của chị H đã lưu thông đến gần xe ô tô của Đ, nên chị H vẫn điều khiển cho xe đi thẳng như bình thường. Do không quan sát ở phía sau và đang di chuyển sang bên trái nên khi chị H lưu thông đến ngang đầu xe ô tô của Đ thì bên trái xe ô tô của Đ xảy ra va chạm với bên phải xe mô tô của chị H, làm chị H và xe mô tô bị té ngã nằm ở phía trước đầu xe ô tô, thấy vậy Đ liền đạp thắng dừng lại và kéo thắng tay lên nhưng quên về số P (số đỗ xe) mà vẫn để ở chế độ số D (số tiến, vì đây là xe số tự động), rồi mở cửa xuống xe để xem tình hình của chị H. Khi vừa mở cửa bước xuống thì xe ô tô bị trôi về phía trước vì vẫn đang còn ở số D, Đ liền leo lên xe ô tô để đạp thắng nhưng lúc này do đang hoảng loạn và bị chới với vì xe bị trôi về phía trước nên Đ đạp nhầm vào chân ga làm xe ô tô tăng tốc lao về phía trước và tông trúng vào xe mô tô và người chị H đẩy chị H về phía trước khoảng 10 – 12 mét và bị cuốn vào gầm xe ô tô, gây ra tai nạn giao thông, sau đó thì Đ đạp thắng dừng xe lại được. Hậu quả, chị H bị thương tích được đưa đi chữa trị tại Bệnh viện; 02 phương tiện bị hư hỏng.
Về hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn tại trước trụ đèn chiếu sáng số F đường Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Đây là đoạn đường hai chiều, thẳng, có mặt đường được trải nhựa bằng phẳng rộng 10m20, có vạch sơn màu vàng nét đơn đứt quãng phân chia hai chiều đường xe chạy riêng biệt, tiếp giáp hai bên mép đường là ta tuy đường bằng bê tông và vỉa hè. Chiều đường bên trái theo hướng từ đường H đến đường T 5m00, chiều đường còn lại rộng 5m20. Đoạn đường không có biển báo hiệu giao thông và không có chướng ngại vật ảnh hưởng đến tầm nhìn của người tham gia giao thông.
- Chọn mép đường bên trái của đường Y theo hướng từ đường H đến đường T, thành phố B làm mép đường chuẩn. Tất cả các số đo vào mép đường chuẩn đều được đo vuông góc. Chọn gốc trụ đèn chiếu sáng số F đường Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, làm mốc cố định, đo vào mép đường bên phải theo hướng chọn mép đường chuẩn là 1m90. Lấy hướng Bắc làm hướng chuẩn.
- Xe ô tô biển số 47A – 416.70, ký hiệu (1): Do Nguyễn Văn Đ điều khiển lưu thông trên đường Y theo hướng từ đường H đến đường T, thành phố B, sau tai nạn xe dừng trên đường Y, đầu xe quay về hướng B, đuôi xe quay về hướng N. T1 trục bánh trước bên trái cách mép đường chuẩn là 2m50 và cách mốc cố định 16m70, tâm trục bánh sau bên trái cách mép đường chuẩn 2m60.
- Xe mô tô biển số 47B2 – 926.50, ký hiệu (2): Do chị Nguyễn Thị H điều khiển lưu thông trên đường Y cùng chiều với xe (1), sau tai nạn xe ngã nghiêng bên phải nằm trên đường Y, đầu xe quay về hướng N, đuôi xe quay về hướng Bắc. T1 trục bánh trước cách mép đường chuẩn là 2m90, tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn 2m60 và cách tâm trục bánh sau bên trái xe (1) là 3m50.
- Vết cày xước, ký hiệu (3): Kích thước (8,10 x 0,60)m, thẳng và đứt quãng. Tính theo hướng chọn mép đường chuẩn thì tâm đầu vết cách mép đường chuẩn 6m10 và mở rộng về sau, cuối vết tại vị trí gác chân sau bên phải tiếp xúc với mặt đường.
* Căn cứ vào dấu vết tại hiện trường, dấu vết trên phương tiện, kết luận giám định và tài liệu có trong hồ sơ, xác định:
- Vị trí va chạm 1, ký hiệu (VC 1), giữa xe (1) và (2) tương ứng tại mặt đường Y thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, cách mép đường chuẩn 7m10, cách tâm đầu vết (3) là 1m90 và cách mốc cố định 30m00.
- Vị trí va chạm 2, ký hiệu (VC 2), giữa xe (1) và chị Nguyễn Thị H (người điều khiển xe (2) tương ứng tại mặt đường Y thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, cách mép đường chuẩn 5m55, cách tâm trục bánh sau xe (2) là 7m00, cách tâm đầu vết (3) là 1m70 và cách vị trí va chạm 1 là 3m50.
Tại bản Kết luận giám định số: 1751/KL-KTHS, ngày 08/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận:
- Dấu vết trượt xước bám dính chất màu đen (dạng cao su) ở mặt ngoài ốp sàn để chân trước bên phải của xe mô tô biển số 47B2 - 962.50 có chiều từ trước ra sau phù hợp với dấu vết trượt xước ở mặt ngoài má lốp bánh trước bên trái của xe ô tô biển số 47A – 416.70. Dấu vết va chạm ở xe ô tô tại vị trí này có chiều từ tâm trục ra mặt lăn lốp bánh xe.
- Dấu vết trượt xước ở mặt ngoài yếm chắn gió bên phải của xe mô tô biển số 47B2 - 962.50 có chiều từ trước ra sau phù hợp với dấu vết trượt xước bám dính chất màu đen, đỏ (dạng nhựa, sơn) ở mặt ngoài bên trái cản trước của xe ô tô biển số 47A – 416.70. Dấu vết va chạm ở xe ô tô tại vị trí này có chiều từ sau ra trước.
- Không đủ cơ sở xác định các dấu vết còn lại ở xe ô tô biển số 47A – 416.70 và xe mô tô biển số 47B2 - 962.50 được ghi nhận trong “Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông” của Công an thành phố B.
- Căn cứ vào hồ sơ vụ tai nạn giao thông gửi giám định: Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô biển số 47A – 416.70 và xe mô tô biển số 47B2 - 962.50 chiếu xuống mặt đường, tại hiện trường thuộc phần đường bên phải đường Y (hướng đi từ đường H đến đường T).
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 719/KLTTCT-PY ngày 20/09/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, kết luận chị Nguyễn Thị H bị:
- Xây xát để lại sẹo cánh chậu trái, kích thước (6 x 3)cm.
- Khung cố định ngoài để lại 4 sẹo:
- + Hai sẹo bên trái, kích thước (0,5 x 0,5)cm và (0,5 x 0,5)cm.
- + Sẹo cánh chậu phải, kích thước (1 x 1)cm.
- + Sẹo bẹn phải, kích thước (0,5 x 0,4)cm.
- Xây xát để lại sẹo mặt mu bàn tay trái, kích thước (4,5 x 2)cm.
- Xây xát để lại sẹo gối trái, kích thước (4,5 x 2)cm.
- Xây xát để lại sẹo mặt trước 1/3 giữa dưới cẳng chân trái, kích thước (2,5 x 2,5)cm.
- Sẹo mổ nằm ngang mặt trước 1/3 dưới đùi trái, sát bánh chè, kích thước (3 x 0,1)cm.
- - Sẹo dẫn lưu mặt trước trong gối phải, kích thước (1,5 x 1)cm.
- - Sẹo mổ mặt ngoài gối phải, kích thước (1 x 1)cm.
- - Sẹo mổ bờ trên ngoài gối phải, kích thước (1 x 1)cm.
- - Sẹo mổ vùng lồi củ mâm chày phải, kích thước (2,5 x 0,2)cm.
- Xây xát để lại sẹo mu bàn chân phải, sát cổ chân phải, kích thước (2,5 x 2)cm.
- - Gãy xương đòn trái.
- - Gãy xương sườn 2, 3, 4 bên trái.
- - Gãy ngành ngồi mu, chậu mu hai bên.
- - Đứt dây chằng chéo trước và chéo sau khớp gối bên phải đã điều trị.
- - Đứt dây chằng bên ngoài gối phải đã điều trị.
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Nguyễn Thị H tại thời điểm giám định là: 66% (Sáu mươi sáu phần trăm).
- Vật tác động: Vật tày cứng và vật tày, cứng có bề mặt không bằng phẳng.
Tại bản Kết luận giám định số: 1477/KL-KTHS ngày 30/09/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận:
- 01 (một) tập tin video có tên “221268935574916878", dung lượng 25.9 MB (27,244,218 bytes), phần mở rộng “.mp4”, mã MD5: CC096029C66DB548407B6 63F03CECC1B. Kí hiệu: A1. Không đủ yếu tố để tiến hành giám định (Nội dung tập tin video được quay lại bằng thiết bị khác).
- 01 (một) tập tin video có tên “1949983761804737766", dung lượng 19.1 MB (20,089,949 bytes), phần mở rộng “.mp4”, mã MD5: 76E2BD7EE6FE306342DF19 7AFABFA75F. Kí hiệu: A2.
+ Từ 00 phút 00 giây đến 00 phút 57 giây; Từ 00 phút 59 giây đến 01 phút 59 giây: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh.
+ Từ 00 phút 57 giây đến 00 phút 59 giây: Không đủ cơ sở xác định tập tin video bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh.
- 01 (một) tập tin video có tên “2746393199304690648", dung lượng 5.44 MB (5,711,728 bytes), phần mở rộng “.mp4”, mã MD5: 0A962790EA13EDD39C946 8912E6C1A57. Kí hiệu: A3. Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh.
Tại bản Kết luận giám định số: 1749/KL-KTHS ngày 13/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Số khung, số máy của xe ô tô biển số 47A – 416.70 và xe mô tô biển số 47B2 - 962.50, không thay đổi.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 230/KL-HĐĐGTS ngày 15/10/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận:
- Đối với xe ô tô biển số 47A – 416.70:
+ Giá trị vật tư thay thế mới, thời điểm định giá vào ngày 23/07/2024 là: 12.560.000 đồng.
+ C dịch vụ sửa chữa: 480.000 đồng.
+ Giá trị vật tư đã qua sử dụng: 3.750.000 đồng.
- Đối với xe mô tô biển số 47B2 - 962.50:
+ Giá trị vật tư thay thế mới, thời điểm định giá vào ngày 23/07/2024 là: 2.300.000 đồng.
+ C dịch vụ sửa chữa: 290.000 đồng.
+ Giá trị vật tư đã qua sử dụng: 1.810.000 đồng.
Tại Phiếu kiểm tra nồng độ cồn ngày 23/07/2024 của Công an thành phố B đối với Nguyễn Văn Đ cho kết quả: 0.0 mg/l khí thở.
Tại Phiếu kết quả xét nghiệm ngày 23/07/2024 của Bệnh viện đa khoa thành phố B đối với Nguyễn Văn Đ cho kết quả: Âm tính với chất ma túy.
Tại hồ sơ bệnh án của Bệnh viện Đ1 đối với chị Nguyễn Thị H, nhập viện ngày 23/07/2024, lý do nhập viện: Tai nạn giao thông. Bệnh viện Đ1 đã không chỉ định làm xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của bệnh nhân Nguyễn Thị H theo Khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số: 26/2014/TTLT-BYT-BCA ngày 23/07/2014 của Bộ Y1 - Bộ C1, với lý do: Thời điểm tiếp nhận bệnh nhân là giờ cao điểm, số lượng bệnh nhân đông, bệnh nhân Nguyễn Thị H vào viện trong tình trạng nặng, choáng đa chấn thương, bác sỹ tập trung chuyên môn xử trí cấp cứu bệnh nhân, áp lực cao nên đã thiếu xót không chỉ định xét nghiệm nồng độ cồn trong máu.
Cáo trạng số 106/CT-VKS-BMT ngày17/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và đúng theo nội dung Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố.
Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự; Điểm b, o, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ, mức án từ: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm cải tạo không giam giữ. Không áp dụng khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ vì bị cáo Đ là người cao tuổi (71 tuổi), sức khỏe yếu, hiện đã nghỉ hưu, đang hưởng lương hưu..
- Các biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 46; Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 589 và Điều 591 Bộ luật dân sự:
+ Về xử lý vật chứng:
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại 01 xe ô tô biển số 47A – 416.70 cho bị cáo Nguyễn Văn Đ; trả lại 01 mô tô biển số 47B2 – 926.50 cho ông Nguyễn Thanh H1 (chồng của chị Nguyễn Thị H) là các chủ sở hữu hợp pháp.
Trả lại 01 Giấy phép lái xe hạng B1, số: [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 11/12/2019, có giá trị đến ngày: 11/12/2029 mang tên Nguyễn Văn Đ, cho bị cáo Nguyễn Văn Đ nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
+ Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn Đ đã bồi thường các khoản chi phí điều trị thương tích, tổn thất về tinh thần và sửa chữa xe mô tô bị hư hỏng cho chị Nguyễn Thị H với tổng số tiền là 450.000.000đ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng), chị Nguyễn Thị H đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Các vấn đề khác đề nghị HĐXX chấp nhận như nội dung tại bản Cáo trạng.
Bị cáo không tranh luận nội dung gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi của mình đã thực hiện. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ căn cứ kết luận: Vào lúc 11 giờ 40 phút ngày 23/7/2024, tại trước địa chỉ F đường Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Văn Đ đã có giấy phép lái xe ô tô hạng B1 điều khiển xe ô tô biển số 47A – 416.70, tham gia giao thông chuyển hướng thiếu chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn, không tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật về điều khiển ô tô, nên để phía trước bên trái xe ô tô va chạm với bên phải xe mô tô biển số 47B2 – 926.50 do chị Nguyễn Thị H điều khiển lưu thông cùng chiều, gây ra tai nạn giao thông, sau đó Đ đạp nhầm chân phanh thành chân ga làm phần đầu xe ô tô tiếp tục va chạm với xe mô tô biển số 47B2 – 926.50 và chị Nguyễn Thị H. Hậu quả, chị H bị thương tích 66%; 02 phương tiện bị hư hỏng nhẹ. Hành vi trên của Nguyễn Văn Đ đã vi phạm Khoản 23 Điều 8 và Khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, hậu quả làm thương tích 01 người tỷ lệ 66%.
Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
...”
[3] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, do chuyển hướng không đảm bảo an toàn, không tuân thủ đúng quy trình điều khiển xe ô tô nên đã dẫn đến va chạm giao thông, hậu quả đã gây thiệt hại đến sức khỏe của bị hại, với tỷ lệ tổn thương cơ thể 66% đồng thời xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Do vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi do bị cáo gây ra thì mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn Đ quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại và được bị hại làm đơn bãi nại; Bị cáo là người đủ 70 tuổi. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử cần áp dụng khi quyết định hình phạt, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã nhận định trên, xét thấy: Bị cáo Nguyễn Văn Đ có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng nên Hội đồng xét xử không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo ngoài đời sống xã hội dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương kết hợp với gia đình cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Do bị cáo Nguyễn Văn Đ hiện nay đã đủ 70 tuổi, hiện đang hưởng lương hưu, không còn tuổi lao động nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
[5] Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 46; Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 589 và Điều 591 Bộ luật dân sự:
+ Về xử lý vật chứng:
Đối với xe ô tô biển số 47A – 416.70 thuộc sở hữu của bị cáo Nguyễn Văn Đ và do Đ đứng tên chủ sở hữu trong giấy chứng nhận đăng ký xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe mô tô có đặc điểm như trên cho chủ sở hữu là Nguyễn Văn Đ, là phù hợp.
Đối với xe mô tô biển số 47B2 – 926.50 thuộc sở hữu của anh Nguyễn Thanh H1 (là chồng của chị Nguyễn Thị H) đứng tên chủ sở hữu trong giấy chứng nhận đăng ký xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe mô tô cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Thanh H1, là phù hợp.
Đối với Giấy phép lái xe hạng B1, số: [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 11/12/2019, có giá trị đến ngày: 11/12/2029 mang tên Nguyễn Văn Đ, nên trả cho bị cáo Nguyễn Văn Đ, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
+ Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn Đ đã bồi thường các khoản chi phí điều trị thương tích, tổn thất về tinh thần và sửa chữa xe mô tô bị hư hỏng cho chị Nguyễn Thị H với tổng số tiền là 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng), chị Nguyễn Thị H đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
[6] Các vấn đề khác:
Đối với chị Nguyễn Thị H, không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, điều khiển xe mô tô biển số 47B2 – 926.50 tham gia giao thông đi đúng chiều đường, không vi phạm tốc độ nên không phải là nguyên nhân gây ra vụ tai nạn giao thông nên Công an thành phố B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với chị Nguyễn Thị H về hành vi “Không có Giấy phép lái xe” quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 21 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 (sửa đổi tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP) của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, là phù hợp.
Đối với anh Nguyễn Thanh H1 là chủ sở hữu của xe mô tô biển số 47B2 – 926.50, anh H1 đã giao xe mô tô trên cho chị H sử dụng tham gia giao thông khi biết chị H không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Tuy nhiên, hành vi của chị Nguyễn Thị H không phải là nguyên nhân gây ra vụ tai nạn giao thông trên nên không phạm vào tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” nên Công an thành phố B đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Nguyễn Thanh H1 về hành vi “Giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển xe tham gia giao thông” quy định tại Khoản 1 Điều 58 Luật giao thông đường bộ quy định tại Điểm đ Khoản 5 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 (sửa đổi tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP) của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, là phù hợp.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm nên thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 260; điểm b, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự.
- Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 46; Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 589 và Điều 591 Bộ luật dân sự:
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn Đ.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự cấp có thẩm quyền nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ.
+ Về xử lý vật chứng:
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại 01 xe ô tô biển số 47A – 416.70 cho bị cáo Nguyễn Văn Đ;
trả lại 01 mô tô biển số 47B2 – 926.50 cho ông Nguyễn Thanh H1 (là chồng của chị Nguyễn Thị H) là các chủ sở hữu hợp pháp.
Trả lại 01 Giấy phép lái xe hạng B1, số: [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 11/12/2019, có giá trị đến ngày: 11/12/2029 mang tên Nguyễn Văn Đ, cho bị cáo Nguyễn Văn Đ nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
(Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/03/2025 giữa Công an thành phố B với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột)
+ Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn Đ đã bồi thường các khoản chi phí điều trị thương tích, tổn thất về tinh thần và sửa chữa xe mô tô bị hư hỏng cho chị Nguyễn Thị H với tổng số tiền là 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng), chị Nguyễn Thị H đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Loan |
Bản án số 110/2025/HS-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 110/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
