Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2025/HS-ST

Ngày 24 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Châm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Giàng A Khá

Bà Vì Thị Xôm

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Tiến Trường - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà:

Ông Lưu Ngọc Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 111/2025/HSST ngày 25 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Tòng Văn D; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1995, tại: tỉnh Điện Biên; Nơi ĐK thường trú và nơi ở trước ngày bị bắt: Bản Xẻ, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tòng Văn L và bà Lò Thị T; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/01/2025 sau đó bị tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Quàng Văn D1; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1995, tại: tỉnh Điện Biên; Nơi ĐK thường trú và nơi ở trước ngày bị bắt: Bản Xôm, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn L1 và bà Lò Thị T1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/01/2025 sau đó bị tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 13/01/2025, sau khi ăn cơm ở nhà ông Lò Văn K tại bản Xẻ, xã P, huyện Đ, Quàng Văn D1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 27N1-131.33 của D1 chở Tòng Văn D về. Khi ra ngoài đường, D rủ Diên mỗi người góp 50.000 nghìn đồng để đi mua Heroine cùng nhau sử dụng, D1 đồng ý dừng xe lại và đưa cho D 50.000 đồng, D cũng bỏ ra 50.000 đồng để góp. Sau đó, D1 điều khiển xe mô tô chở D đến khu vực đường thuộc bản N, xã P, huyện Đ, thì D1 dừng xe lại. D xuống xe và bảo D1 đứng chờ, còn D một mình đi bộ vào bản Na Há, xã P gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Lào, khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 01 gói Heroine, với giá 100.000 đồng. Mua xong, D cầm gói Heroine ở tay trái đi bộ ra chỗ D1 và nói “Tao mua được Heroine rồi, mày chở tao đi tìm chỗ để cùng nhau sử dụng Heroine đi". D1 đồng ý và điều khiển xe chở D đi tìm chỗ sử dụng Heroine. Hồi 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi D1 đang điều khiển xe mô tô chở D đi trên đường thuộc khu vực bản X, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Công an xã P, huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay trái của D đang cầm 01 gói nilon màu xanh, bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là H) và tạm giữ xe mô tô biển kiểm soát 27N1-131.33, kèm chìa khoá xe (xe đã bị mất Giấy chứng nhận đăng ký). Tổ công tác mời người chứng kiến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 13/02/2025 tại Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên đã xác định: Gói chất bột màu trắng thu giữ của Tòng Văn D có khối lượng là 0,28 gam, gửi toàn bộ làm mẫu vật giám định chất ma tuý. Tại bản kết luận giám định số: 96/KL-KTHS ngày 19/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Tòng Văn D gửi giám định là chất ma túy loại Heroine. H1 lại mẫu vật gửi giám định là 0,2 gam.

Tại Bản cáo trạng số: 46/CT-VKSHĐB ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Quàng Văn D1 và bị cáo Tòng Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự: Tuyên bố các bị cáo Tòng Văn D và Quàng Văn D1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Tòng Văn D từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù; xử phạt bị cáo Quàng Văn D1 từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 05 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,2 gam Heroine (là vật chứng hoàn lại sau giám định); tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu xanh; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc xe mô tô BKS 27N1- 131.33, kèm chìa khoá xe. Các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không tranh luận và hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng, Luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Hồi 13 giờ 30 phút ngày 13/01/2025 tại khu vực bản X, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Tòng Văn D bị bắt quả tang khi đang có hành vi cất giấu trái phép 0,28 gam Heroine. Nguồn gốc số Heroine bị thu giữ là do Tòng Văn D và Quàng Văn D1 cùng góp tiền để D đi mua, mục đích để cùng nhau sử dụng. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng, Kết luận giám định, Kết luận điều tra và các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nên các bị cáo đều phải chịu trách nhiệm đối với 0,28 gam Heroine bị thu giữ. Vì vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố các bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng cũng như nhận thức được chính sách pháp luật hình sự của nhà nước đối với những hành vi mua bán, tàng trữ,... trái phép chất ma túy nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, các bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm những quy định của nhà nước về chế độ quản lý, sử dụng các chất ma túy mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Tội phạm mà các bị cáo vi phạm là tội phạm nghiêm trọng, vì vậy các bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Các bị cáo Tòng Văn D và Quàng Văn D1 cùng cố ý thực hiện một tội phạm nhưng không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ nên đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có tính tổ chức. Bị cáo Tòng Văn D là người khởi xướng, cùng góp tiền, trực tiếp mua và cất giấu ma tuý nên giữ vai trò chính. Bị cáo Quàng Văn D1 là người cùng góp tiền và cùng thực hiện tội phạm nên có vai trò sau D.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Nhân thân: Các bị cáo đều chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt đối với các bị cáo: Sau khi xem xét về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hình phạt chính: Cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo có điều kiện cai nghiện đồng thời giáo dục, cải tạo các bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của bị cáo D nghiêm trọng hơn bị cáo D1 nên cần áp dụng hình phạt đối với bị cáo D nghiêm khắc hơn bị cáo D1.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự nhưng các bị cáo làm nông nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án: 0,2 gam Heroine (là vật chứng hoàn lại sau giám định) thu giữ của bị cáo Tòng Văn D là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và 01 mảnh nilon màu xanh không còn giá trị sử dụng nên cần bị tịch thu tiêu hủy; 01 chiếc xe mô tô BKS 27N1-131.33, kèm chìa khoá xe của Quàng Văn D1, là phương tiện D1 dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước; theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[6] Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho bị cáo Tòng Văn D do bị cáo không biết tên tuổi và địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ được, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự nhưng các bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở nơi có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên toà các bị cáo có ý kiến xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Về các hành vi và Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng huyện Đ, tỉnh Điện Biên đã thực hiện đều hợp pháp, HĐXX chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;

1. Tội danh: Tuyên bố các bị cáo Tòng Văn D và Quàng Văn D1 đều phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Tòng Văn D 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 13/01/2025).

Xử phạt bị cáo Quàng Văn D1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 13/01/2025).

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 0,2 gam Heroine (là vật chứng hoàn lại sau giám định) và 01 mảnh nilon màu xanh.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc xe mô tô: Biển kiểm soát: 27N1-131.33; Nhãn hiệu: HONDA; số loại: WINNERX; màu sơn: Đỏ đen; loại xe: Hai bánh từ 50-175cm³; số máy: KC34E5078840; số khung: RLHKC4410NY219737; dung tích xi lanh: 149,1 cm³; năm sản xuất: 2022, xe có 01 chìa khoá; xe cũ đã qua sử dụng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/02/2025 giữa Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).

4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/3/2025).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND huyện Điện Biên;
  • - Công an tỉnh Điện Biên (PC04, PV06);
  • - Phân trại tạm giam khu vực
  • TP. Điện Biên Phủ;
  • - Chi cục THADS huyện Điện Biên;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu: Hs, hs THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Châm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 110/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tòng Văn D - Quàng Văn D1 phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger