TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 109/2024/HSST Ngày: 09/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Thanh Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Côi và bà Nguyễn Thị Vân
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà, TP . xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 106/2024/HSST ngày 23/10/2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐXXST – HS ngày 13/11/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số12/2024/HSST – QĐ ngày 27/11/2024 đối với bị cáo:
Đoàn Văn T - sinh năm 1988, Nơi ĐKHKTT và nơi ở:thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; con ông Đoàn Văn L và con bà Đỗ Thị Ấ; Vợ: Bùi Thị V – sinh năm: 1983; Có 02 con: Lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, Tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 15/7/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 07/6/2015, chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, đã được xóa án tích.
Bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.
- Người bị hại:
+ Anh Trần Văn H – sinh năm: 1996 (Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Vũ Thế Q – sinh năm: 1972 (Vắng mặt)
Địa chỉ: số F N, phường H, quận H, TP .
- Những người làm chứng:
+ Ông Nguyễn Văn T1 – sinh năm: 1961 (Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn N, xã V, huyện Ứ, TP .
+ Anh Đỗ Xuân T2 – sinh năm: 1997 (Vắng mặt)
Địa chỉ: xã T, huyện V, tỉnh Nam Định
+ Bà Vũ Thị P – sinh năm: 1959 (Vắng mặt)
Địa chỉ: số D T, phường L, TP ., tỉnh Nam Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 18/8/2024, anh Đỗ Xuân T2 đăng lên mạng xã hội Facebook bài viết tuyển người làm công cho Hợp tác xã C thuộc thôn N, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội do ông Nguyễn Văn T1 làm giám đốc (ông T1 nhờ T2 đăng tải bài viết do anh T2 và ông T1 quen biết nhau từ trước). Đến ngày 19/8/2024, Đoàn Văn T sử dụng số điện thoại 0832.718.xxx liên lạc với anh T2 và trao đổi về việc T muốn làm công nhân tại trang trại lợn và hẹn sau 01 đến 02 ngày sẽ tự đến trang trại. Khoảng 10 giờ ngày 22/8/2024, T tiếp tục liên lạc với T2 và nhờ T2 gửi định vị vị trí trang trại của ông T1. Cùng ngày, T đến gặp ông T1 thì ông T1 đồng ý cho T tạm thời làm công việc tại trang trại lợn và ở tạm trong khu nhà của công nhân.
Khoảng 08 giờ sáng ngày 24/8/2024, T thấy các công nhân đi làm ở các chuồng trại hết, xung quanh không còn ai nên nảy sinh ý định vào phòng ngủ của anh Trần Văn H (là công nhân trang trại lợn ở sát với phòng ngủ của T) để trộm cắp tài sản. Sau đó, T lén lút mở cửa đi vào phòng ngủ của anh H rồi đóng cửa lại để không ai nhìn thấy. Lúc này, T nhìn thấy trên giường có 01 túi đựng đồ (loại bao tải dứa) có nhiều màu khác nhau, in họa tiết hình trái tim, túi dạng khóa kéo, miệng túi đang mở, bên trong túi có 01 ví da màu đen, bên dưới toàn quần áo. Thưởng mở ví kiểm tra bên trong có 230.000 đồng; 01 Đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 21C1-359.63; 01 Giấy phép lái xe và 01 Căn cước công dân đều mang tên Trần Văn H. Thưởng liền lấy 230.000 đồng và 01 Đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 21C1-359.63 cho vào túi quần bên phải. Tiếp đó, T nhìn thấy 01 chìa khóa xe mô tô để trong túi nilong treo trên móc quần áo (vị trí gần với giường) nên đã lấy chìa khóa xe mô tô rồi treo túi nilong lại chỗ cũ, quay về phòng của mình rồi cho 230.000 đồng và đăng ký xe mô tô vừa trộm cắp được vào ví. Sau đó, T sắp quần áo vào ba lô, đi ra khu vực để xe của nhân viên thì thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 21C1-359.63 đang dựng tại đây, T biết xe mô tô này của anh H liền tiến đến lấy chìa khóa xe cho vào ổ khóa, nổ máy rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 21C1-359.63 quay lại phòng ngủ lấy ba lô quần áo đi ra khu vực nội thành Hà Nội tìm nơi tiêu thụ. Khi đi đến cửa hàng xe máy “Vũ Quyền” của anh Vũ Thế Q, T dừng lại, bán xe mô tô cho anh Q với giá 10.000.000 đồng và viết giấy bán xe cho anh Q. Toàn bộ số tiền bán xe và tiền trộm cắp được mà có Thưởng đã chi tiêu cá nhân hết. Cùng ngày, anh Trần Văn H phát hiện bị mất chiếc xe mô tô trên đã trình báo tại Công an xã V. Ngày 28/8/2024, Đoàn Văn T đầu thú tại Công an xã V và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 21C1-359.63.
- - 01 giấy đăng ký xe mô tô số 21 007064 của xe mô tô biển kiểm soát 21C1-359.63 mang tên Trần Văn H.
- - 01 chiếc ví da màu xanh đen, trên mặt ví có dòng chữ "SEVEN.UOMO".
Ngày 29/08/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Ứ đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 3141 đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 21C1-359.63.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 53/KL-HĐĐGTSTTT, ngày 31/08/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ứ, kết luận: “Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS 21C1-359.63, số khung RLHJA3925NY720619, số máy JA39E2892638, đăng ký xe ngày 09/12/2022, đã qua sử dụng (có kèm đăng ký xe) có giá trị là 13.750.000 đồng (mười ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng)”
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Bản cáo trạng số 105/CT-VKS ngày 23/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa truy tố Đoàn Văn T về: “Tội trộm cắp tài sản” qui định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đoàn Văn T từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 28/8/2024.
Trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 589; 468; Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/09/2022 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng buộc bị cáo Đoàn Văn T phải bồi thường trả anh Vũ Thế Q số tiền là 10.000.000 đồng; bồi thường trả anh Trần Văn H số tiền 230.000 đồng.
Về vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc ví da màu xanh đen, trên mặt ví có dòng chữ "SEVEN.UOMO".
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Qúa trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đều thực hiện đúng, đầy đủ các qui định của pháp luật.
[2] Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Ngày 24/8/2024, tại trang trại lợn của ông Nguyễn Văn T1 ở thôn N, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội, Đoàn Văn T đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp số tiền 230.000 đồng, 01 chiếc xe mô tô Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 21C1-359.63, 01 Đăng ký xe mô tô của anh Trần Văn H, chiếm đoạt tài sản có tổng giá trị là 13.980.000 đồng (mười ba triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng).
Do vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và dăn đe, phòng ngừa chung.
[3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của BLHS.
Bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 589 Bộ luật Dân sự:
Số tiền 230.000 đồng là tiền của anh H mà bị cáo lấy trộm, do đó, buộc bị cáo phải bồi thường trả anh H số tiền 230.000 đồng là có văn cứ.
Bị cáo bán chiếc xe mô tô cho Anh Vũ Thế Q lấy số tiền 10.000.000 đồng, số tiền này, bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết. Anh Vũ Thế Q yêu cầu Đoàn Văn T bồi thường số tiền 10.000.000 đồng. Do đó, buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Q số tiền là 10.000.000 đồng.
[5] Một số nội dung khác: Kết quả điều tra xác định ngày 24/8/2024, khi Đoàn Văn T mang chiếc xe mô tô biển kiểm soát 21C1-359.63 cùng đăng ký xe đến cửa hàng mua bán xe của anh Q để bán, anh Q không biết chiếc xe mô tô trên là tài sản do T trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Ứ không đề cập xử lý là có căn cứ.
[6] Về vật chứng:
- - Đối với vật chứng thu giữ là: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 21C1-359.63. 01 giấy đăng ký xe mô tô số 21 007064 của xe mô tô biển kiểm soát 21C1-359.63 mang tên Trần Văn H là tài sản hợp pháp của anh H nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Ứ ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh H là có căn cứ, đúng pháp luật.
- - Đối với 01 chiếc ví da màu xanh đen, trên mặt ví có dòng chữ “SEVEN.UOMO” là tài sản của bị cáo T. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bị cáo có quan điểm chiếc ví giá trị thấp, không còn giá trị sử dụng, không nhận lại chiếc ví này. Do đó, hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm là: 511,500 đồng.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 135, 136; Điều 331; 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 589; Điều 468 bộ luật Dân sự; Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/09/2022 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án đối với bị cáo Đoàn Văn T;
Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt: Bị cáo Đoàn Văn T 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2024.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đoàn Văn T.
- Trách nhiệm dân sự:
- - Buộc bị cáo Đoàn Văn T phải bồi thường trả anh Trần Văn H số tiền 230.000 đồng.
- - Buộc bị cáo Đoàn Văn T phải bồi thường trả anh Vũ Thế Q số tiền là 10.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người có đơn yêu cầu thi hành án tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc ví da màu xanh đen, trên mặt ví có dòng chữ “SEVEN.UOMO”
(Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Thi hành án Dân sự và cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Ứ, TP . ngày13/11/2024)
- Về án phí: buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 511.500 đồng (năm trăm mười một nghìn, năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ (Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo nội dung liên quan đến quyền lợi của chính mình).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thanh Minh |
Bản án số 109/2024/HSST ngày 09/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 109/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Đoàn Văn T phạm tội trộm cắp tài sản
