Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN MINH

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/HS-ST

Ngày 06-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Để

Bà Hồ Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lâm Sển - Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 12 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Phan Nguyễn Đa P, sinh ngày 14 tháng 11 năm 2001 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp K, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Không có nghề nghiệp ổn định; trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Phan Văn K và bà Nguyễn Thị Tuyết P1; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

2. Đoàn Văn D (tên gọi khác: Dũng C), sinh ngày 01 tháng 7 năm 1998 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi ĐKTT: khu phố A, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú hiện nay: khu phố D, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Đoàn Văn Đ và bà Trần Thị Cẩm Đ1; vợ Nguyễn Thị Huyền T; con có 02 người, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án: Ngày 30/6/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, 01 năm

03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 02 năm tù tại Bản án số 195/2021/HS-ST; tiền sự: không; Về nhân thân: Ngày 26/9/2012 bị Ủy ban nhân dân huyện A, tỉnh Kiên Giang ra quyết định đưa vào trường G thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 3302/QĐ; Ngày 25/01/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Quyết định số 02/2018/QĐ-TA; Ngày 26/6/2024 bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 02 năm tù về tội Chế tạo, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng tại bản án số: 64/2024/HS-ST; hiện đang bị tạm giam trong một vụ án; có mặt tại phiên tòa.

3. Lê Minh H, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1983 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: khu phố A, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Lê Hữu H1 và bà Nguyễn Thị X; vợ Thái Thị Mỹ T1 (đã ly hôn); con có 02 người, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Trần Thúy H2, sinh năm 1981. Địa chỉ: ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 08/8/2023, bị can Phan Nguyễn Đa P, mượn xe của bị can Lê Minh H đưa bạn tên Phúc E về nhà bạn tên Duyên C ở ấp K, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Sau khi đưa bạn về xong, bị can P điều khiển xe chạy về một mình, khi đến cầu K, thuộc xã V thì gặp K và Ú (không rõ lai lịch nhân thân) là bạn chơi ma túy chung với P nên P dừng xe lại, khi gặp P, K và Ú hỏi P “nhậu không, chạy lại đây lấy đồ để nhậu” nghe nói vậy P biết là đi lấy trộm tài sản của người khác nhưng P vẫn đồng ý. Lúc này, bị can P, K, Ú và một người thanh niên P không biết tên, cùng đi đến tiệm tạp hóa của vợ chồng ông Trần Văn T2 và bà Trần Thị Thúy H2, ở ấp M, xã V, quan sát thấy không có người trông giữ nên người thanh niên đi chung đột nhập vào trong, P và Ú thì đứng ở ngoài xe, K đứng bên trong chuyền ra cho P 04 con chồn hương và 01 con bị rớt lại trong bồn nước, kêu P lấy chồn đi cất giấu và tìm chỗ bán thì P đồng ý. Khoảng 02 giờ ngày 08/8/2023, bị can P mang 04 con chồn về nhà trọ Tú Tú điện thoại kêu bị can Lê Minh H mở cửa cất giấu 04 con chồn. Thấy việc lấy trộm tài sản trong tiệm tạp hóa của ông Trần Văn T2 dễ dàng, nên bị can P rủ bị

can H chở đến tiệm tạp hóa trên để tiếp tục lấy trộm tài sản thì bị can H đồng ý. Khi đến trước cửa tiệm của ông T2, bị can P kêu bị can H dừng xe lại, rồi đột nhập vào trong tiệm, lấy trộm 03 thùng bia hiệu Heniken, 02 thùng bia hiệu Bivina và khoảng 20 cái card điện thoại loại 10.000 đồng và 20.000 đồng. Khi về đến nhà trọ, bị can P cho bị can H hơn 100.000 đồng tiền lẻ, 04 cái card điện thoại khoảng 100.000 đồng. Đối với số tài sản lấy trộm được, P bán cho bị can Đoàn Văn D nhà ở khu phố D, thị trấn T Một 02 con chồn với giá 1.200.000 đồng và cho bị can D vài cái card điện thoại, bán cho bị can Lê Minh H 02 con chồn với giá 1.000.000 đồng, bán cho một người phụ nữ lạ mặt 03 thùng bia hiệu Heniken được số tiền 900.000 đồng, còn 02 thùng bia Bivina và số card điện thoại còn lại P sử dụng hết.

Sau khi mua 02 con chồn của bị can Phan Nguyễn Đa P bị can Lê Minh H đem cho một người tên V ở Cà Mau để ăn thịt, còn 02 con chồn của bị can Đoàn Văn D mua của bị can P, bị sổng chuồng đi mất.

Tại Cơ quan điều tra bị can Phan Nguyễn Đa P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội trộm cắp tài sản. Bị can Đoàn Văn D và bị can Lê Minh H thừa nhận biết chồn hương là do bị can P trộm cắp mà có được, nhưng vẫn đồng ý mua.

Tại bản Kết luận về việc định giá tài sản số: 36/KL-HĐĐGTS ngày 19/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A kết luận: 05 con chồn có tổng trọng lượng 08 kilogam có giá trị 12.000.000 đồng; 03 thùng bia Heniken loại lon lùn có giá trị 1.050.000 đồng; 02 thùng bia hiệu Bivina có giá trị 460.000 đồng. Tổng cộng 13.510.000 đồng. Riêng số card điện thoại không định giá được.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra không có thu giữ tài liệu, đồ vật, vật chứng gì.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là bà Trần Thị Thúy H2 yêu cầu bị can Phan Nguyễn Đa P bồi thường thiệt hại tài sản bị mất, tổng số tiền là 30.000.000 đồng, gia đình bị can P đã bồi thường được 3.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 54/CT-VKS-AM ngày 24-5-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Phan Nguyễn Đa Phước về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; truy tố Đoàn Văn D và Lê Minh H về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.

Ngày 31-7-2024, Tòa án nhân dân huyện An Minh trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh để điều tra bổ sung.

Ngày 01-10-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh ban hành Văn bản số: 03/VKS-HS về việc giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Phan Nguyễn

Đa P về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; truy tố Đoàn Văn D và Lê Minh H về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự theo nội dung tại bản Cáo trạng số: 54/CT-VKS-AM ngày 24-5-2024.

Tại phiên tòa,

- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Phan Nguyễn Đa P phạm tội trộm cắp tài sản; bị cáo Đoàn Văn D và Lê Minh H phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và đề nghị:

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo P từ 09 đến 12 tháng tù.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo D từ 09 đến 12 tháng tù.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo H từ 12 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.

Về trách nhiệm dân sự, ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên tại phiên tòa.

- Bị cáo P, H, D thừa nhận hành vi như cáo trạng đã nêu. Trong lời nói sau cùng các bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Bị cáo P thống nhất bồi thường cho bị hại tổng số 28 triệu đồng; đã đưa trước 8 triệu đồng, còn lại 20 triệu đồng sẽ tiếp tục trả.

- Bị hại H2 thống nhất với mức bị cáo P bồi thường bằng 28 triệu đồng; đã được trả 8 triệu đồng; còn 20 triệu yêu cầu bị cáo P tiếp tục trả.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội:

[2.1] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại

phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 01 giờ, ngày 08/8/2023 tại ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Phan Nguyễn Đa P cùng với K, Ú và 01 đối tượng chưa rõ lai lịch nhân thân đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm 05 con chồn, 03 thùng bia hiệu Heniken, 02 thùng bia hiệu Bivina và một số card điện thoại của bà Trần Thị Thúy H2. Tài sản bị cáo P lấy trộm được định giá có tổng giá trị là 13.510.000 đồng, đối với số card điện thoại không định giá được.

[2.2] Sau khi lấy trộm tài sản của bà H2 thì P đem bán lại cho Đoàn Văn D 02 con chồn với số tiền 1.200.000 đồng, bán lại cho Lê Minh H 02 con chồn với giá 1.000.000 đồng, bán cho 01 người phụ nữ lạ mặt 03 thùng bia hiệu Heniken với giá 900.000 đồng. Khi mua thì D và H biết được đây là tài sản mà P trộm cắp của người khác mà có, tuy nhiên thấy giá bán rẽ nên vẫn đồng ý mua.

[3] Về tội phạm:

[3.1] Hành vi của bị cáo P là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại; khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; có khả năng nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; bị cáo cùng với K, Ú và 01 đối tượng chưa rõ lai lịch nhân thân thực hiện hành vi lén lút để chiếm đoạt tài sản và tài sản bị cáo chiếm đoạt có tổng giá trị theo định giá là 13.510.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo P phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3.2] Hành vi của các bị cáo D và H là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và gián tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại; khi thực hiện hành vi, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; bị cáo biết được và buộc phải biết được bị cáo P là người không có nuôi chồn nhưng kêu bán chồn với giá rẽ hơn thị trường là tài sản bất hợp pháp; các bị cáo đã tiêu thụ tài sản do P trộm cắp mà có được có là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện; Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo D và H phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Về hình phạt:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Đối với bị cáo P và H phạm tội lần đầu nên không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Riêng bị cáo D ngày 30/6/2021 đã bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 02 năm tù tại Bản án số 195/2021/HS-ST, bị cáo chưa được xóa án tích lại tiếp

tục thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo P, H, D thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị cáo P và H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, các bị cáo P và H được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo D được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy bị cáo D có nhân thân xấu, đã bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện và bị kết án nhưng không sửa chữa sai phạm mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo P đến nay chưa khắc phục xong hậu quả cho bị hại nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định. Khi quyết định mức hình phạt thấy bị cáo D liên tục thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử phạt nghiêm khắc hơn các bị cáo còn lại là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo. Bị cáo H có nơi cư trú rõ ràng, mới phạm tội lần đầu nên thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo bằng hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp. Xét thấy bị cáo có nghề nghiệp với thu nhập không ổn định, khó đảm bảo việc thi hành án nên miễn khấu trừ thu nhập.

Bị cáo D đã bị xét xử bằng Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 về tội Trộm cắp tài sản của TAND huyện An Minh, trong bản án này đã tổng hợp hình phạt của Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 26/6/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang nên hình phạt không tổng hợp trong bản án này. Đồng thời do Bản án số 109 chưa có hiệu lực pháp luật nên HĐXX không tổng hợp hình phạt. Khi các Bản án có hiệu lực sẽ tổng hợp theo quy định chung để buộc bị cáo D thi hành.

[5] Về trách nhiệm dân sự, tại phiên tòa bị cáo P với bị hại H2 thống nhất được về mức bồi thường, không thỏa thuận được về thời gian trả. Theo đó bị cáo P có trách nhiệm bồi thường cho bị hại H2 tổng số 28.000.000 đồng, khấu trừ số tiền 8.000.000 đồng đã đưa, bị cáo P còn tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng.

[6] Về án phí, các bị cáo P, D và H mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng; bị cáo P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 20.000.000

đồng x 5 % = 1.000.000 đồng.

Đối với K, Ú và 01 đối tượng cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với bị cáo P và 01 người phụ nữ mua 03 thùng bia hiệu Heniken do bị cáo Phước bán, hiện nay cơ quan cảnh sát điều tra chưa xác minh làm việc được, nên chưa xử lý trong vụ án này là hợp lý. Đề nghị Viện kiểm sát, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1- Tuyên bố: Bị cáo Phan Nguyễn Đa P phạm tội Trộm cắp tài sản; bị cáo Đoàn Văn D (Dũng C) và Lê Minh H phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

1.1- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Nguyễn Đa P 06 (sáu) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

1.2- Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Văn D (Dũng C) 06 (sáu) tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

1.3- Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Minh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Lê Minh H cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án. Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong giai đoạn thi hành án.

2- Về trách nhiệm dân sự, buộc bị cáo Phan Nguyễn Đa P tiếp tục bồi thường cho bị hại Trần Thúy H2 số tiền là 20.000.000 đồng.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí

và lệ phí Toà án, bị cáo P, D và H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo P phải chịu 1.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4- Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 06-12-2024).

Trường hợp phần trách nhiệm dân sự trong bản án này được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKS huyện, tỉnh;
  • - Toà án tỉnh KG;
  • - Cơ quan THAHS huyện AM;
  • - Cơ quan THADS huyện AM;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Sở TP tỉnh KG;
  • - Công an huyện, tỉnh;
  • - UBND xã Vân Khánh, AM, KG;
  • - UBND TT. Thứ Mười Một, AM, KG;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Lê Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về vụ án hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 110/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Nguyễn Đã P và đồng bon phạm tội Trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger