Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÀU BÀNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

 

Bản án số: 110/2024/HS-ST

Ngày: 03-12-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Duy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Độ;

Bà Phạm Thị Tuyết Nhung.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng tham gia phiên tòa: Ông Thái Hoàng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 126/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn L, sinh năm 1986 tại Thanh Hóa. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị D; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/5/2024 đến ngày 15/5/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.
  2. Nguyễn Văn T, sinh năm 1984 tại Bình Dương. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ E, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; trình độ văn hóa: 3/12; nghề nghiệp: tài xế; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị G; vợ tên Đoàn Thị Kim C và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/5/2024 đến ngày 15/5/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.
  3. Hoàng Văn H, sinh năm 1982 tại Thanh Hóa. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ dân phố Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: tài xế; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Hoàng Văn P (đã chết) và bà Phạm Thị N; vợ tên Phạm Thị M và 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  4. Nguyễn Minh T1, sinh năm 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ G, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: tài xế; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Minh H1 và bà Lương Thị Mai H2; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  5. Nguyễn Trọng T2, sinh năm 1991 tại Thanh Hóa. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ dân phố N, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Trọng L1 và bà Vũ Thị X; vợ tên Nguyễn Thị Thanh N1 và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  6. Trương Thanh T3, sinh năm 1988 tại Vĩnh Long. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; trình độ văn hóa: 8/12; nghề nghiệp: tài xế; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Trương Văn B và bà Nguyễn Thị N2; vợ tên Trần Thị Mai X1 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  7. Phan Thông T4, sinh năm 1984 tại Thành phố Cần Thơ. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ A, khu phố A, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: buôn bán; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Phan Thông K (đã chết) và bà Trần Thu H3; vợ tên Đỗ Thị Huỳnh M1 và 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  8. Hoàng Văn H4, sinh năm 1984 tại Thanh Hóa. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ dân phố Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: buôn bán; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Hoàng Văn P (đã chết) và bà Phạm Thị N; vợ tên Lê Thị N3 và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  9. Đặng Văn N4, sinh năm 1977 tại Ninh Bình. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ D, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: làm thuê; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Đặng Đăng N5 (đã chết) và bà Lê Thị L2; vợ tên Nguyễn Thị Thu H5 và 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  10. Trương Văn T5, sinh năm 1989 tại Sóc Trăng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; trình độ văn hóa: 8/12; nghề nghiệp: buôn bán; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Trương Thành T6 và bà Tạ Thị H6; vợ tên Võ Thị Đ1 và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T, Phan Thông T4, Nguyễn Minh T1, Trương Thanh T3, Hoàng Văn H, Nguyễn Trọng T2, Hoàng Văn H4, Trương Văn T5, Đặng Văn N4 là những người làm nghề tài xế, mua bán heo và làm thuê tại trạm trung chuyển heo của Công ty CP thuộc tổ A, ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương và có quan hệ quen biết nhau. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 11/5/2024, trong lúc chờ bắt heo trước trạm trung chuyển Công ty CP, Nguyễn Văn L và Nguyễn Văn T rủ nhau hùn tiền mỗi người 1.500.000 đồng để làm cái chơi đánh bạc bằng hình thức lắc bầu cua thắng thua bằng tiền. L lấy 01 bộ lắc bầu cua do L mang theo, dùng 01 tấm chiếu cói cũ có sẵn từ trước trải ở lô cao su trước trạm trung chuyển heo của Công ty CP để đánh bạc bằng hình thức lắc bầu cua. Hình thức chơi lắc bầu cua như sau: T là người trực tiếp thực hiện việc lắc bầu cua bằng cách bỏ 03 hạt xí ngầu có 06 mặt in hình bầu, cua tôm, cá, gà, nai lên đĩa kim loại, sau đó lấy nắp hình trụ tròn úp lại để không cho các con bạc thấy được mặt của các hột xí ngầu, sau đó T lắc lên 01 cái để cho 03 hột xí ngầu thay đổi các mặt khác nhau trên hột xí ngầu, các con bạc đặt tiền vào tấm giấy có in hình bầu, của, tôm, cá, gà, nai trải ở dưới chiếc chiếu theo việc đoán các mặt hình của các hột xí ngầu, số tiền đặt cược của các con bạc tham gia ít nhất là 50.000 đồng, nhiều nhất là 100.0000 đồng, không giới hạn số ô đặt (mỗi con bạc có thể đặt nhiều ô khác nhau tùy vào việc đặt cược của các con bạc). Sau khi các con bạc đặt cược tiền xuống các hình mà mình đặt cược xong, T sẽ mở nắp hình trụ tròn lên để các con bạc thấy các mặt phía trên của 03 hạt xí ngầu, nếu mặt phía trên của 03 hạt xí ngầu có hình mà các con bạc đặt cược tiền tương ứng với dưới tấm giấy thì các con bạc sẽ thắng nhà cái (T và L) số tiền tương ứng đã đặt cược, nếu không có, các con bạc sẽ bị thua số tiền đã đặt cược. Nếu có 02 hoặc 03 hột xí ngầu cùng tương ứng với con mà con bạc đặt cược thì số tiền thắng được nhân đôi hoặc nhân ba số tiền cược. L là người cầm tiền để tính thắng thua với các con bạc.

Khoảng 18 giờ, ngày 11/5/2024, khi Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T, Phan Thông T4, Nguyễn Minh T1, Trương Thanh T3, Hoàng Văn H, Nguyễn Trọng T2, Hoàng Văn H4 đang đánh bạc thì bị Công an xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương bắt quả tang đang đánh bạc thắng thua bằng tiền bằng hình thức lắc bầu cua. Khi Công an xã L bắt quả tang thì Đặng Văn N4 và Trương Văn T5 đã chơi hết tiền nên ra về trước.

Vật chứng tạm giữ:

  • Số tiền tại chiếu bạc 11.000.000 đồng;
  • Tạm giữ trong người của Nguyễn Văn L số tiền 2.000.000 đồng; thu giữ trong người của Nguyễn Văn T số tiền 500.000 đồng.
  • 01 chiếc chiếu cói kích thước 1,6m x 2m;
  • 01 bộ bầu cua gồm: 01 nắp hình trụ tròn đường kính 19cm, cao 13cm; 01 đĩa bằng kim loại đường kính 24cm; 01 tấm giấy kịch thước 46cm x 43cm có hình vẽ bầu, cua, tôm, cá, gà, nai và 03 hột xí ngầu 06 mặt có hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai.

Quá trình điều tra đã xác định:

Nguyễn Văn L mang theo số tiền 3.500.000 đồng dùng vào việc đánh bạc. Nguyễn Văn T mang theo số tiền 2.000.000 đồng dùng vào việc đánh bạc. L và T góp mỗi người 1.500.000 đồng để làm cái. Khi bị bắt L và T thua 1.500.000 đồng. Tạm giữ tại chiếu bạc của L và T là 1.500.000 đồng. Tạm giữ trong người của L là 2.000.000 đồng, tạm giữ trong người của T là 500.000 đồng.

Nguyễn Trọng T2 khai nhận, tham gia đánh bạc lúc 17 giờ, khi tham gia đánh bạc có 2.400.000 đồng, khi bị bắt thắng 500.000 đồng và số tiền bị thu giữ tại chiếu bạc là 2.900.000 đồng.

Hoàng Văn H khai nhận tham gia đánh bạc lúc 17 giờ 30 phút, sử dụng số tiền 3.500.000 đồng để đánh, khi bị bắt thua 200.000 đồng và bị thu giữ tại chiếu bạc là 3.300.000 đồng;

Hoàng Văn H4 khai tham gia đánh bạc lúc 17 giờ 30 phút, sử dụng số tiền 500.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thua 300.000 đồng và bị thu giữ tại chiếu bạc là 200.000 đồng;

Nguyễn Minh T1 khai nhận tham gia đánh bạc lúc 15 giờ 30 phút, sử dụng 600.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thì thua hết tiền mang theo;

Trương Thanh T3 khai nhận tham gia đánh bạc lúc 15 giờ 30 phút, sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thua 500.000 đồng và bị thu giữ tại chiếu bạc là 1.000.000 đồng.

Phan Thông T4 khai nhận tham gia đánh bạc khoảng hơn 16 giờ, sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thì thắng 600.000 đồng, tổng số tiền bị thu giữ tại chiếu bạc là 2.100.000 đồng.

Như vậy số tiền đánh bạc của Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T, Phan Thông T4, Nguyễn Minh T1, Trương Thanh T3, Hoàng Văn H, Nguyễn Trọng T2, Hoàng Văn H4 là 13.500.000 đồng.

Trương Văn T5 khai nhận tham gia đánh bạc lúc khoảng 17 giờ 00 phút, sử dụng 300.000 đồng để tham gia đánh bạc với Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T, Phan Thông T4, Nguyễn Minh T1, Trương Thanh T3. Sau khi thua hết 300.000 đồng, Trương Văn T5 nghỉ. Như vậy số tiền đánh bạc của Trương Văn T5 với Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T, Phan Thông T4, Nguyễn Minh T1, Trương Thanh T3 là 9.400.000 đồng. Khi Trương Văn T5 tham gia đánh bạc thì không đánh bạc cùng với Đặng Văn N4, Hoàng Văn H, Nguyễn Trọng T2 và Hoàng Văn H4.

Đặng Văn N4 khai nhận tham gia đánh bạc lúc khoảng 17 giờ 30 phút, sử dụng 400.000 đồng để tham gia đánh bạc với Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T, Phan Thông T4, Nguyễn Minh T1, Trương Thanh T3, Hoàng Văn H. Sau khi thua hết 400.000 đồng, N4 vào công ty làm việc. Như vậy số tiền đánh bạc của N4 với Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T, Phan Thông T4, Nguyễn Minh T1, Trương Thanh T3, Hoàng Văn H là 9.500.000 đồng. Khi N4 tham gia đánh bạc thì không đánh bạc cùng với Trương Văn T5, Nguyễn Trọng T2 và Hoàng Văn H4.

Cáo trạng số 124/CT-VKSBB ngày 12 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T, Phan Thông T4, Nguyễn Minh T1, Trương Thanh T3, Hoàng Văn H, Nguyễn Trọng T2, Hoàng Văn H4, Đặng Văn N4 và Trương Văn T5 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Về hình phạt:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L mức hình phạt từ 07 (bảy) tháng tù đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 (mười bốn) tháng đến 18 (mười tám) tháng.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức hình phạt từ 07 (bảy) tháng tù đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 (mười bốn) tháng đến 18 (mười tám) tháng.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phan Thông T4 số tiền từ 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) đến 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T1 số tiền từ 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) đến 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trương Thanh T3 số tiền từ 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) đến 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Hoàng Văn H số tiền từ 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) đến 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T2 số tiền từ 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) đến 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Hoàng Văn H4 số tiền từ 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) đến 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đặng Văn N4 số tiền từ 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) đến 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trương Văn T5 số tiền từ 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) đến 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).

Về biện pháp tư pháp:

  • Đối với số tiền 13.500.000 đồng (mười ba triệu năm trăm nghìn đồng) thu giữ của các bị cáo là vật chứng của vụ án nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • Đối với 01 (một) chiếc chiếu cói kích thước 1,6 m x 2 m (đã qua sử dụng); 01 (một) đĩa bằng kim loại đường kính 24 cm (đã qua sử dụng); 01 (một) tấm giấy kích thước 46 cm x 43 cm có hình vẽ bầu, cua, tôm, cá, gà, nai (đã qua sử dụng); 03 (ba) hột xí ngầu 06 mặt có hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai (đã qua sử dụng) và 01 (một) nắp hình trụ đường kính 19 cm, cao 13 cm (đã qua sử dụng) là công cụ các bị cáo dùng để phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng qua phần tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và nội dung luận tội.

Tại phiên tòa, các bị cáo thống nhất toàn bộ nội dung truy tố, luận tội, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng các bị cáo ăn năn hối hận và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng với quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 11/5/2024, tại ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương, Trương Văn T5 đánh bạc bằng hình thức lắc bầu cua với với Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T, Phan Thông T4, Nguyễn Minh T1, Trương Thanh T3 với số tiền đánh bạc là 9.400.000 đồng, sau đó Trương Văn T5 nghỉ. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Đặng Văn N4 đánh bạc bằng hình thức lắc bầu cua với với Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T, Phan Thông T4, Nguyễn Minh T1, Trương Thanh T3, Hoàng Văn H với số tiền đánh bạc là 9.500.000 đồng, sau đó Đặng Văn N4 nghỉ. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T, Phan Thông T4, Nguyễn Minh T1, Trương Thanh T3, Hoàng Văn H, Nguyễn Trọng T2, Hoàng Văn H4 đánh bạc bằng hình thức lắc bầu cua thắng thua bằng tiền với số tiền đánh bạc là 13.500.000 đồng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang. Do đó, hành vi mà các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Các bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng tại địa phương nơi gây án. Các bị cáo nhận thức được Nhà nước ta nghiêm cấm việc đánh bạc trái phép dưới mọi hình thức nhưng vì động cơ tư lợi mà các bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục các bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Vụ án có tính chất đồng phạm nhưng giản đơn do vậy Hội đồng xét xử quyết định xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý. Xét thấy không cần bắt các bị cáo L, T chấp hành hình phạt tù bởi bị cáo L, T có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo L, T hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo L, T và cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.

Căn cứ vào nhận thân, tính chất mức độ phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về biện pháp tư pháp:

  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 13.500.000 đồng (mười ba triệu năm trăm nghìn đồng) thu giữ của các bị cáo là vật chứng của vụ án.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc chiếu cói kích thước 1,6 m x 2 m (đã qua sử dụng); 01 (một) đĩa bằng kim loại đường kính 24 cm (đã qua sử dụng); 01 (một) tấm giấy kích thước 46 cm x 43 cm có hình vẽ bầu, cua, tôm, cá, gà, nai (đã qua sử dụng); 03 (ba) hột xí ngầu 06 mặt có hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai (đã qua sử dụng) và 01 (một) nắp hình trụ đường kính 19 cm, cao 13 cm (đã qua sử dụng) là công cụ các bị cáo dùng để phạm tội.

[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Các Điều 106, Điều 136, Điều 260, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
  • Nghị Quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo;
  • Nghị Quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị Quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo;

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T, Phan Thông T4, Nguyễn Minh T1, Trương Thanh T3, Hoàng Văn H, Nguyễn Trọng T2, Hoàng Văn H4, Đặng Văn N4 và Trương Văn T5 phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm 02 (hai) tháng tính từ ngày tuyên án.
  2. Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm 02 (hai) tháng tính từ ngày tuyên án.
  4. Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  5. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phan Thông T4 số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
  6. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T1 số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
  7. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trương Thanh T3 số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
  8. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Hoàng Văn H số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
  9. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T2 số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
  10. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Hoàng Văn H4 số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
  11. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đặng Văn N4 số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
  12. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trương Văn T5 số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 13.500.000 đồng (mười ba triệu năm trăm nghìn đồng).
  • Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc chiếu cói kích thước 1,6 m x 2 m (đã qua sử dụng); 01 (một) đĩa bằng kim loại đường kính 24 cm (đã qua sử dụng); 01 (một) tấm giấy kích thước 46 cm x 43 cm có hình vẽ bầu, cua, tôm, cá, gà, nai (đã qua sử dụng); 03 (ba) hột xí ngầu 06 mặt có hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai (đã qua sử dụng) và 01 (một) nắp hình trụ đường kính 19 cm, cao 13 cm (đã qua sử dụng).

(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/11/2024 giữa Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng – Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng và Giấy nộp tiền ngày 18/11/2024 của Ngân Hàng TMCP N6 Chi nhánh B1).

4. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh Bình Dương;
  • VKSND tỉnh Bình Dương;
  • Công an tỉnh Bình Dương;
  • Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • VKSND huyện Bàu Bàng;
  • Công an huyện Bàu Bàng;
  • Chi cục THADS huyện Bàu Bàng;
  • UBND xã Sông Trầu, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai;
  • UBND phường Tân Phước Khánh, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
  • Người tham gia tố tụng;
  • Cổng thông tin điện tử Tòa án (nếu có);
  • Lưu: HS, Tòa.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Duy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về đánh bạc

  • Số bản án: 110/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger