|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 110/2024/HS-ST Ngày: 29-11-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Ngọc Mỹ
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Lợi
Bà Lê Thị Thanh Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Ánh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ H - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 91/2024/HSST ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Chung Anh P (tên gọi khác: Phúc B), sinh ngày 12/8/1969 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi cư trú: B P, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; con ông Chung Văn S (chết) và bà Trần Thị C, sinh năm 1938; có vợ Trịnh Thị Phi Y, sinh năm 1970 và và 02 con, Chung Anh T sinh năm 1996 và Chung Anh T1, sinh năm 2000; tiền sự: Không; tiền án: Bản án số 87/2019/HSST ngày 25/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đến ngày 21/07/2022 chấp hành xong. Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang ngày 10/4/2024, bị tạm giam từ ngày 10/04/2024 tại Nhà tạm giữ Công an quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Bà Trần Thị Kim C1, sinh năm 1992. (có mặt)
Thường trú: 769/255 P, Phường D, Quận H, Tp ..
2/ Bà Trần Thị Tuyết M, sinh năm 1969. (có mặt)
Thường trú: 8 Đ, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tạm trú: B P, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 17 giờ 15 phút ngày 10/4/2024, tại bên hông nhà C P, Phường E, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận P, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện bắt quả tang Chung Anh P đang điều khiển xe máy biển số 59L1-172.98 có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy để sử dụng, thu giữ trong túi quần bên phải phía trước P đang mặc có 01 gói nylon chứa tinh thể, kết luận giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,6625 gam, loại Methamphetamine.
Lúc 20 giờ 15 phút ngày cùng ngày, Cơ quan Công an tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Chung Anh P tại B P, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện thu giữ:
- + Tại tầng trệt có 02 gói nylon chứa tinh thể, kết luận giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 14,8352 gam;
- + Tại tầng 1 có 01 gói nylon chứa tinh thể, kết luận giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 1,6643 gam, loại Methamphetamine và và 01 đoạn ống hút được vót nhọn 1 đầu.
- + Tại hành lang tầng 2 có 05 đoạn ống thủy tinh bên trong có chứa tinh thể, kết luận giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,3029 gam, loại Methamphetamine và 05 ống hút nhựa.
Vật chứng là ma túy thu giữ của Chung Anh P đã được giám định tại Kết luận giám định số 4586/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K Công an Thành phố H.
Tại Cơ quan điều tra, Chung Anh P khai P là đối tượng nghiện ma túy, Ngày 10/4/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên P đã đi đến khu vực Công viên 23 tháng 9, Quận A gặp 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) mua 700.000 đồng ma túy đá để sử dụng. Sau khi nhận ma túy, P đem về chỗ ở tại nhà số B P, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh và chia nhỏ thành 02 gói ma túy, 01 gói Phúc cất giấu tại tầng 1 và đã bị cơ quan Công an khám xét, phát hiện thu giữ, 01 gói ma túy còn lại P cất giấu trong túi quần. Đến 17 giờ 15 phút ngày 10/4/2024, P mang theo 01 gói ma túy cất giấu trong túi quần và điều khiển xe máy biển số 59L1-172.98 đi ra ngoài, khi đi đến bên hông nhà C P, Phường E, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an quận P, Thành phố Hồ Chí Minh bắt giữ.
Đối với số ma túy thu giữ khi khám xét tại nhà B P, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, P khai 02 gói ma túy thu giữ tại tầng 1 là P khai mua một đối tượng (không rõ lai lịch) từ năm 2022 với giá 6.000.000 đồng, 05 ống thủy tinh bên trong có chứa ma túy thu giữ tại hành lang tầng 2 Phúc mua của nhiều đối tượng (không rõ lai lịch) ở khu vực Công viên B tháng 9, Quận A. Toàn bộ số ma túy này P cất giấu đều nhằm mục đích sử dụng cá nhân nhưng chưa sử dụng hết, đến ngày 10/4/2024 thì bị Công an quận P, Thành phố Hồ Chí Minh khám xét, thu giữ.
Bị cáo P khai người nhắn tin cho bị cáo P với số điện thoại 0969.876.xxx với nội dung tin nhắn “A mang lên cho e 1 goc4 chơi nhe a còn có lay cho em nữa hop luon đi trưa mai em lay tiền e đưa lai cho nha con có 700k thôi”, tên D ở T, Bình Dương, là bạn bè xã hội của bị cáo P và bị cáo P không có bán ma túy cho D và chưa từng sử dụng ma túy với D.
Đối với thuê bao số 0939333345 có tên T3 với nội dung tin nhắn: “Ah chú ý con hỏi là 1h5 chứ tính con 2tr Vậy nữa h5 là 1tr, 12s là 500k Cứng luôn đúng ko chú. Bị cáo P khai người nhắn tin cho bị cáo có tên T3 ở Quận A là người sử dụng ma túy, bạn bè xã hội của bị cáo P, nội dung tin nhắn là T3 nhắn tin hỏi giá ma túy đá. Tuy nhiên cơ quan điều tra chưa rõ T3 đang cư trú ở đâu nên chưa thể làm việc với T3 về nội dung tin nhắn với bị cáo P.
* Vật chứng thu giữ:
- + 04 (bốn) gói niêm phong ma túy sau giám định vụ số 4586/24 ký hiệu G1, G2, G3, G4 bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh Đ (giám định viên), Nguyễn Khiếu Đình H1 (Điều tra viên).
- + 01 (một) mảnh giấy được quấn băng keo đen; 01 (một) túi bóng kiếng màu tím; 01 (một) hộp giấy màu đỏ; 01 (một) túi vải màu đỏ;; 01 (một) rổ nhựa màu hồng; 01 (một) đoạn ống hút nhựa được vắt nhọn một đầu; 01 (một) vali màu nâu; 01 (một) túi nylon màu đen; 05 (năm) đoạn ống hút nhựa.
- + 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số sim 0773120869, số imei 869874044177333.
- + 01 (một) xe máy hiệu Honda Click, biển số 59L1-172.98, số máy JF18E0290579, số khung RLHJF1807AY835240.
Tại Cáo trạng số 73/CT-VKSPN ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo C2 Anh P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
* Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo C2 Anh P như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo P từ 7 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về xử lý vật chứng:
- + Đối với: 04 (bốn) gói niêm phong ma túy sau giám định vụ số 4586/24 ký hiệu G1, G2, G3, G4 bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh Đ (giám định viên), Nguyễn Khiếu Đình H1 (Điều tra viên). Số ma túy còn lại sau giám định không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.
- + Đối với: 01 (một) mảnh giấy được quấn băng keo đen; 01 (một) túi bóng kiếng màu tím; 01 (một) hộp giấy màu đỏ; 01 (một) túi vải màu đỏ;; 01 (một) rổ nhựa màu hồng; 01 (một) đoạn ống hút nhựa được vắt nhọn một đầu; 01 (một) vali màu nâu; 01 (một) túi nylon màu đen; 05 (năm) đoạn ống hút nhựa không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.
- + Đối với: 01 điện thoại di động hiệu OPPO. Bị cáo P khai nhận sử dụng điện thoại này để liên hệ mua ma túy nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- + Đối với: 01 xe máy hiệu Honda Click, biển số 59L1-172.98, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bà Trần Thị Kim C1 và giành quyền khởi kiện cho bà C1 và bà M liên quan đến tranh chấp mua bán xe.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Kim C1 trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại xe gắn máy hiệu Honda Click, biển số 59L1-172.98 cho bà C1. Lúc trước bà C1 có mượn tiền của bà Trần Thị Tuyết M, sau đó bà M đòi lấy chiếc xe để cấn trừ số nợ nhưng bà M còn thiếu lại bà C1 10.000.000 đồng cho đến nay chưa trả do bà M đổi số điện thoại và không biết bà M ở đâu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Tuyết M trình bày: Đề nghị trả lại chiếc xe trên cho bà M vì bà M đã mua xe của bà C1 và trả đủ tiền. Tuy nhiên, bà M đã làm mất giấy mua bán xe viết tay nên không có để cung cấp. Nếu bà C1 muốn lấy lại xe thì đề nghị bà Chi T2 lại cho bà M 5.000.000 đồng.
Bị cáo Chung Anh P thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng. Lời nói sau cùng của bị cáo P đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an quận P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng có trong hồ sơ vụ án của Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
[2] Xét thấy lời khai tại phiên tòa của bị cáo P phù hợp với lời khai của bị cáo P tại cơ quan điều tra, vật chứng của vụ án, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 17 giờ 15 phút ngày 10/4/2024, tại bên hông nhà C P, Phường E, quận P, thành phố Hồ Chí Minh, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận P, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện bắt quả tang Chung Anh P đang điều khiển xe máy biển số 59L1-172.98 có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy để sử dụng, thu giữ 0,6625 gam, loại Methamphetamine. Lúc 20 giờ 15 phút cùng ngày, Công an quận P, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Chung Anh P tại B P, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện thu giữ tổng cộng 16,8024 gam ma túy, loại Methamphetamine.
Như vậy, tổng khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 17,4649 gam, loại Methamphetamine. Toàn bộ số ma túy trên bị cáo P khai cất giấu nhằm mục đích để sử dụng. Vì vậy, hành vi nêu trên của bị cáo C2 Anh P đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Bản cáo trạng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo P là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý và sử dụng chất ma túy của Nhà nước. Khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo P đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi nhưng bị cáo P vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm cất giữ 17,4649 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng là đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Methamphetamine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo P ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo P không rõ lai lịch cụ thể, cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ nên không có căn cứ để xem xét xử lý.
Đối với Nguyễn Sơn T3, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên đề nghị Cơ quan Công an tiếp tục điều tra làm rõ, có cơ sở xử lý sau.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Ngày 25/11/2019, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt bị cáo P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 21/07/2022 chấp hành xong hình phạt tù, tính đến lần phạm tội này bị cáo P chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục cố ý thực hiện tội phạm, thuộc trường hợp “Tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo P thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo P.
[6] Về xử lý vật chứng thu giữ trong vụ án:
Đối với: 04 (bốn) gói niêm phong ma túy sau giám định vụ số 4586/24 ký hiệu G1, G2, G3, G4 bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh Đ (giám định viên), Nguyễn Khiếu Đình H1 (Điều tra viên). Xét, đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với: 01 (một) mảnh giấy được quấn băng keo đen; 01 (một) túi bóng kiếng màu tím; 01 (một) hộp giấy màu đỏ; 01 (một) túi vải màu đỏ;; 01 (một) rổ nhựa màu hồng; 01 (một) đoạn ống hút nhựa được vắt nhọn một đầu; 01 (một) vali màu nâu; 01 (một) túi nylon màu đen; 05 (năm) đoạn ống hút nhựa, không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.
- - Đối với: 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số sim 0773120869, số imei 869874044177333. Bị cáo P khai nhận sử dụng điện thoại này để liên hệ mua ma túy nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- - Đối với: 01 xe máy hiệu Honda Click, biển số 59L1-172.98, qua giám định có số khung, số máy không thay đổi. Qua xác minh do bà Trần Thị Kim C1 đứng tên chủ sở hữu. Bị cáo P khai bà Trần Thị Tuyết M là hàng xóm của bị cáo P nhờ bị cáo P đi sửa xe và đón con giùm.
Tại phiên tòa, bà Trần Thị Kim C1 và bà Trần Thị Tuyết M đều đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe gắn máy hiệu Honda Click, biển số 59L1-172.98.
Hội đồng xét xử xét thấy: Bà M khai mua chiếc xe trên của bà C1 nhưng không cung cấp được giấy tờ mua bán xe. Hiện bà M đang giữ bản chính giấy đăng ký xe. Bà C1 khai nhận bán xe cho bà M và bà M còn thiếu 10.000.000 đồng chưa trả cho bà C1 nhưng không cung cấp được giấy tờ thể hiện việc bà M còn nợ tiền. Do chiếc xe trên đứng tên chủ sở hữu là bà C1, nên trả lại chiếc xe trên cho bà C1. Giành quyền khởi kiện dân sự cho bà M và bà C1 trong một vụ án dân sự khác nếu có tranh chấp về mua bán xe và giấy tờ xe.
[7] Về án phí: Bị cáo P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng theo qui định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo C2 Anh P 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/04/2024.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).
- Tịch thu và tiêu hủy:
- + 04 (bốn) gói niêm phong ma túy sau giám định vụ số 4586/24 ký hiệu G1, G2, G3, G4 bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh Đ (giám định viên), Nguyễn Khiếu Đình H1 (Điều tra viên).
- + 01 (một) mảnh giấy được quấn băng keo đen; 01 (một) túi bóng kiếng màu tím; 01 (một) hộp giấy màu đỏ; 01 (một) túi vải màu đỏ;; 01 (một) rổ nhựa màu hồng; 01 (một) đoạn ống hút nhựa được vắt nhọn một đầu; 01 (một) vali màu nâu; 01 (một) túi nylon màu đen; 05 (năm) đoạn ống hút nhựa.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, số sim 0773120869, số imei 869874044177333.
- Trả lại cho bà Trần Thị Kim C1 01 (một) xe máy hiệu Honda Click, biển số 59L1-172.98, số máy JF18E0290579, số khung RLHJF1807AY835240.
Giành quyền khởi kiện dân sự cho bà Trần Thị Kim C1 và bà Trần Thị Tuyết M trong một vụ án dân sự khác nếu hai bên có tranh chấp về mua bán xe và giấy tờ xe.
(Theo Lệnh xuất kho vật chứng số: 721/LXK-ĐCSMT ngày 29/10/2024 của Công an quận P và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/11/2024 giữa Công an quận P, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh; )
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Chung Anh P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).
Bị cáo Chung Anh P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Kim C1 và bà Trần Thị Tuyết M có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Văn Thị Ngọc Mỹ |
Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 110/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
