|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 110/2024/HS-ST Ngày: 26-11-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Luyến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thành và bà Vũ Thị Linh
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Giao – Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 19/11/2024 và ngày 26/11/2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 106/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị H, sinh năm 1975, tại huyện L, tỉnh Bắc Ninh;
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (Đã chết) và bà Nguyễn Thị H1; chồng là Nguyễn Văn H2, sinh năm 1974; có 01 con sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Bị hại: Anh Lưu Chí V, sinh năm 2005;
Người đại diện hợp pháp của anh V: Ông Lưu Văn M, sinh năm 1982 và bà Phạm Thị H3, sinh năm 1984;
Người đại diện theo uỷ quyền của ông M, bà H3 là Lưu Văn M1, sinh năm 1955;
Đều trú tại: KDC Đ, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh.
Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Ông Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1957.
Vắng mặt phiên toà ngày 19/11/2024: Anh V, ông M, bà H3.
Vắng mặt phiên toà ngày 26/11/2024: Anh V, ông M, bà H3, ông M1, ông Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 35 phút ngày 14/5/2024, Nguyễn Thị H (có giấy phép lái xe theo quy định), điều khiển xe ô tô biển số 99C–106.96 trên Quốc lộ A theo hướng S đi Quảng Ninh. Khi đi đến khu vực K+600 Quốc lộ A thuộc địa phận phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương, đây là đoạn đường thẳng, mặt đường trải nhựa bằng phẳng, lòng đường rộng 18 mét, được phân chia làm hai chiều đường S đi Quảng Ninh và ngược lại bởi vạch kẻ đường sơn nét đứt màu trắng, tiếp đó là hai vạch sơn kẻ liền màu vàng, sau đó là vạch kênh hóa dòng xe dạng gạch chéo được sơn màu trắng và tiếp nối với đoạn đường đôi có giải phân cách cứng theo hướng S đi Quảng Ninh; mỗi chiều đường rộng 09 mét, ở giữa mỗi chiều đường được phân chia làm hai làn đường xe chạy bằng vạch kẻ sơn nét đứt màu trắng. Lúc này, H điều khiển xe ô tô đi ở làn đường sát tim đường, khi gần đến đoạn có dải phân cách cứng thì H chuyển hướng rẽ trái tại phần đường có vạch kênh hóa dòng xe dạng gạch chéo (vạch 4.1 theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ, có ý nghĩa: phương tiện không được lấn vạch hoặc cắt qua vạch trừ trường hợp khẩn cấp), do thiếu chú ý quan sát, không nhường đường cho xe đi ngược chiều nên khi xe ô tô của H đang chuyển hướng sang phần đường ngược chiều thì anh Lưu Chí V, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Ware màu trắng, đen, bạc, không gắn biển số (không đội mũ bảo hiểm, không có giấy phép lái xe theo quy định) đi hướng Quảng Ninh - S, khi đi đến khu vực có biển cảnh báo nguy hiểm, giao nhau với đường không ưu tiên, đã không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn dẫn đến phần đầu xe mô tô do anh V điều khiển va chạm với phần thành thùng bên phải của xe ô tô do H điều khiển làm xe mô tô do anh V điều khiển đổ nghiêng sang bên phải, đầu xe hướng S, đuôi xe hướng Quảng Ninh, tâm trục bánh sau cách mép đường phải là 5,5 m, tâm trục bánh trước của xe cách mép đường phải là 5,52 m; phần mặt nạ phía trước và yếm xe mô tô bị vỡ tạo thành đám nhựa vỡ có kích thước (2 x 1,8) m, khoảng cách từ tâm vùng nhựa vỡ đến mép đường phải là 4,6 m. Sau va chạm, H tiếp tục điều khiển xe ô tô đỗ sát lề đường bên phải hướng Quảng Ninh đi S. Anh Lưu Chí V được đưa đi cấp cứu. Hậu quả vụ tai nạn: anh Lưu Chí V bị đa chấn thương (chấn thương sọ não gây xuất huyết dưới nhện, dập não, gãy thành sau xoang trán phải, gãy 1/3 giữa xương đòn trái, gãy xương bả vai trái, gãy 1/3 trên xương chày trái, gãy đầu dưới xương quay trái, gãy phức tạp đầu dưới xương đùi phải), tỉ lệ tổn thương cơ thể là 98% (Chín mươi tám phần trăm), xe mô tô bị hư hỏng thiệt hại 4.790.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm chín mươi nghìn đồng); xe ô tô bị hư hỏng thiệt hại 3.700.000 đồng (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng).
Việc thu giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã tạm giữ xe ô tô biển số 99C–106.96 và trả cho Nguyễn Thị H; xe mô tô nhãn hiệu Honda Ware màu trắng, đen, bạc, không gắn biển số, qua xác minh có biển số 34B4-589.60 là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Lưu Chí V, Cơ quan điều tra đã trả lại cho người đại diện của anh V. 01 Giấy phép lái xe ô tô của Nguyễn Thị H được đưa vào hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thị H đã tự nguyện bồi thường cho anh Lưu Chí V số tiền 250.000.000 đồng. Gia đình anh V đã nhận đủ số tiền, không có yêu cầu, đề nghị gì khác về trách nhiệm dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo H. Đối với thiệt hại của xe ô tô biển số 99C–106.96 của bị cáo H, H không yêu cầu, đề nghị anh V phải bồi thường.
Tại Cáo trạng số 114/CT-VKS-CL ngày 23/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng, đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, xin được hưởng án treo.
Đại diện bị hại giữ nguyên quan điểm đã trình bày, về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong và không có yêu cầu gì khác; về hình phạt: Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị hại có đơn xin vắng mặt tại các phiên toà khác.
Người làm chứng là ông Đào G nguyên quan điểm đã trình bày tại cơ quan điều tra, và xin vắng mặt tại các phiên toà khác.
Đại diện VKSND thành phố Chí Linh giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Xử phạt bị cáo 12-15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24-30 tháng tính từ ngày tuyên án 26/11/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo Nguyễn Thị H giấy phép lái xe ô tô hạng B2, số [...], do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 13/7/2017, có giá trị đến ngày 13/7/2027 (trả tại phiên toà)
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan, kết luận giám định thương tích, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ 35 phút ngày 14/5/2024, Nguyễn Thị H điều khiển xe ô tô biển số 99C–106.96 theo hướng S đi Quảng Ninh đi đến khu vực K+600 quốc lộ A thuộc địa phận phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương, là khu vực có vạch kênh hóa dòng xe dạng gạch chéo (vạch 4.1 theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ, có ý nghĩa: phương tiện không được lấn vạch hoặc cắt qua vạch trừ trường hợp khẩn cấp), H đã không chấp hành chỉ dẫn của vạch kẻ đường, điều khiển xe cắt qua vạch, chuyển hướng rẽ trái không đảm bảo an toàn dẫn đến phần thùng xe bên phải của xe ô tô do H điều khiển va chạm với phần đầu xe phía trước xe mô tô nhãn hiệu Honda Ware màu trắng, đen, bạc, không gắn biển số do anh Lưu Chí V điều khiển hướng Quảng Ninh đi S (không đội mũ bảo hiểm, không có giấy phép lái xe theo quy định). Hậu Quả anh Lưu Chí V bị thương, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 98% (chín mươi tám phần trăm), xe mô tô bị hư hỏng thiệt hại 4.790.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm chín mươi nghìn đồng); xe ô tô bị hư hỏng thiệt hại 3.700.000 đồng (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng).
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi điều khiển xe ô tô phải chấp hành chỉ dẫn của vạch kẻ đường, khi chuyển hướng phải đảm bảo an toàn nhưng bị cáo thiếu chú ý quan sát, không nhường đường cho phương tiện đi ngược chiều đã vi phạm tại khoản 1 Điều 11, khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ dẫn đến làm bị thương 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 98%, mặc dù bị cáo không mong muốn hậu quả không xảy ra và tin tưởng hậu quả không xảy ra, nên bị cáo thực hiện với lỗi vô ý vì cẩu thả. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, VKSND thành phố Chí Linh truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại quá trình điều tra và phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho bị hại, đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị hại điều khiển xe máy không có giấy phép lái xe, tại khu vực có biển cảnh báo nguy hiểm, giao nhau với đường không ưu tiên đã không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên xác định bị hại có một phần lỗi, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[6] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, đã ăn năn hối cải, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần về hình phạt cho bị cáo, không cần thiết phải buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội, mà cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự.
[7] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 250.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ và không yêu cầu gì khác, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[9] Về vật chứng:
[9.1] Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã tạm giữ xe ô tô biển số 99C–106.96 và trả cho Nguyễn Thị H; xe mô tô nhãn hiệu Honda Ware màu trắng, đen, bạc, không gắn biển số, qua xác minh có biển số 34B4-589.60 là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Lưu Chí V, Cơ quan điều tra đã trả lại cho người đại diện của anh V và đại diện người bị hại không có yêu cầu gì khác; đối với thiệt hại của xe ô tô biển số 99C–106.96 của bị cáo H, H không yêu cầu, đề nghị anh V phải bồi thường, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[9.2] Trả lại bị cáo Nguyễn Thị H giấy phép lái xe ô tô hạng B2, số [...], do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 13/7/2017, có giá trị đến ngày 13/7/2027 theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (trả tại phiên toà)
[10] Vấn đề khác: Đối với anh Lưu Chí V điều khiển xe mô tô khi không có giấy phép lái xe theo quy định, không đội mũ bảo hiểm, xe không gắn biển số, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi đi đến khu vực có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên dẫn đến va chạm với xe ô tô biển số 99C-106.96 của bị cáo H, làm xe ô tô bị hư hỏng với giá trị thiệt hại: 3.700.000 đồng (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng), Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu liên quan đến Công an thành phố C để xem xét xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
[11] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[12] Về biện pháp ngăn chặn: Bị cáo H đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú của Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, bị cáo được áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo nên cần hủy bỏ biện pháp ngăn chặn theo quy định tại điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[13] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người đại diện của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 13 (Mười ba) tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 26 (Hai mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án 26/11/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo Nguyễn Thị H giấy phép lái xe ô tô hạng B2, số [...], do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 13/7/2017, có giá trị đến ngày 13/7/2027 (trả tại phiên toà)
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người đại diện theo uỷ quyền của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Giao bị cáo H cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Thị Luyến |
Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)
- Số bản án: 110/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giao thông
