Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐĂNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/HSST

Ngày: 21/11/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Thiện;

Bà Trần Thị Chín.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 104/2024/ HSST ngày 29 tháng 10 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 223/2024/QĐXXST – HS ngày 11/11/2024 đối với các bị cáo:

  1. Lê Văn H, sinh năm 1995, tại tỉnh Đắk Lắk.

    Căn cước công dân số: [...]; cấp ngày 12/8/2021

    Nơi cư trú: Thôn P, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk

    Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị H1; bị cáo có vợ và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2024 cho đến nay, (có mặt).

  2. Trần Thanh T, sinh năm 2002, tại tỉnh Đắk Lắk.

    Căn cước công dân số: [...]; cấp ngày 24/3/2023.

    Nơi cư trú: Tổ B, thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Đắk Lắk

    Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh B và bà Bùi Thị M; tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2024 cho đến nay, (có mặt).

  3. Trần Đức T1, sinh năm 1996, tại tỉnh Bình Phước.

    Căn cước công dân số: [...]; cấp ngày 10/4/2021.

    Nơi cư trú: Thôn B, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước.

    Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn V và bà Trương Thị Hồng P; tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2024 cho đến nay, (có mặt).

- Người làm chứng:

  1. Điểu Thị M1, sinh năm 2005, (vắng mặt).

    Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.

  2. Danh Ý N, sinh năm 1992, (vắng mặt).

    Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

  3. Phạm Minh T2, sinh năm 2004, (vắng mặt).

    Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

  4. Đỗ Hồng T3, sinh năm 2005, (vắng mặt).

    Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

  5. Phạm Thị Diễm M2, sinh năm 2000, (vắng mặt).

    Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

  6. Lê Văn C, sinh năm 1998, (vắng mặt).

    Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

  7. Tạ Trung Bảo Q, sinh năm 1985, (vắng mặt).

    Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

  8. Tạ Trung Bảo Q1, sinh năm 1994, (vắng mặt).

    Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

  9. Phạm Ngọc H2, sinh năm 1969, (vắng mặt).

    Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 23/5/2024, Lê Văn H cùng Trần Thanh T, Trần Đức T1, Tạ Trung Bảo Q, Tạ Trung Bảo Q1 và Đỗ Hồng T3 ăn uống tại nhà nghỉ T5 thuộc thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Sau khi ăn uống xong, vào khoảng 15 giờ cùng ngày tất cả đi bộ đến quán “Karaoke 333” thuộc thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước do Phạm Ngọc H2 làm chủ để hát, H thuê phòng VIP 1 hát karaoke. Lúc này, H, T, T1 bàn bạc mua ma túy loại Ketamine về sử dụng. T1 dùng điện thoại nhãn hiệu Realme màu xanh, số điện thoại 0939.404.xxx gọi điện thoại đến số điện thoại 0348.093.xxx nói chuyện với một người đàn ông (không biết nhân thân, lý lịch) (Triều lưu tên là Đ) hỏi mua 3.000.000 đồng ma tuý, người đàn ông nhắn tin số tài khoản ngân hàng, T1 đưa số tài khoản cho T và T dùng điện thoại nhãn hiệu Sam Sung màu đen, có số tài khoản 3126799999 mở tại ngân hàng T6 của T chuyển 3.000.000 đồng vào số tài khoản 5606205269166 mang tên “NGUYEN THỊ THU HA”. Khoảng 20 phút sau, có một người đàn ông vào phòng đưa gói nylon được hàn kín bên trong có ma túy, loại ketamine cho T1, T1 cầm gói ma túy để lên bàn trước mặt H đang ngồi. H cầm lên xé gói ma túy, đổ một ít ma túy vào tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng của H, số ma túy còn lại H cất giấu vào phía sau khe loa nhạc trong phòng VIP 1. H dùng quẹt gas màu xanh, H đốt lửa lên hơ ma túy dưới tờ tiền 1000 đồng và dùng quẹt gas cà nhuyễn ma túy, rồi H đổ ma túy vào đáy lon bia tiger bạc, H gấp tờ tiền kín lại rồi để xuống bàn. Sau đó, H lấy một đoạn ống hút nhựa màu cam (loại ống hút nước uống) hít ma túy dưới đáy lon bia, tiếp tục T lấy đoạn ống hút hít ma túy hai lần. Sau khi sử dụng ma túy xong, thì T cầm lon bia có chứa ma túy đưa cho T3 sử dụng. Lúc này, có Danh Thị Ý N, Điểu Thị M1 và Phạm Minh T2 vào phòng VIP 1 hát, uống bia. H tiếp tục lấy ma túy đã để sẵn bên trong tờ tiền giấy mệnh giá 1.000 đồng do lần sử dụng trước đang còn, rồi gấp kín tờ tiền lại sử dụng bật lửa gas màu xanh, hơ nóng ma túy bên trong tờ tiền xong để xuống bàn, N đang mời bia thì H chỉ cho N dùng bật lửa gas cà bên ngoài tờ tiền, khi N cà được mấy cái, thì nói M1 tiếp tục cà vào tờ tiền (N và M1 đã uống nhiều bia, trong phòng hát đèn mờ, tờ tiền được gấp sẵn nên lúc được H chỉ cho cà tờ tiền thì N và M1 không biết và không thấy bên trong tờ tiền có chứa gì). Điểu Thị M1 khi được N nhờ cầm bật lửa cà lên tờ tiền thì cũng làm như N đã nhờ. Sau khi cà được một hai cái thì để bật lửa và tờ tiền lên trên lon bia tiger bạc rồi tiếp tục hát và uống bia. Lúc này, T1 cùng với Phạm Thị Diễm M3 đi vào phòng hát ngồi cạnh H. Sau đó, H cầm tờ tiền 1000 đồng có chứa ma túy đổ vào hai đáy lon bia Tiger bạc, một lon để trên bàn trước chỗ H ngồi, còn một lon để trên bàn trước chỗ T và N ngồi. H, T cầm ma tuý đưa cho M1, Lê Văn C, M3, T2, T3, T1 để sử dụng ma tuý. T cầm lon bia có chứa ma túy cất vào vách tường phía sau lưng vị trí T ngồi thì bị đổ ra vách tường. Đến 17 giờ 45 phút ngày 23/5/2024, Công an huyện B phối hợp với Công an xã Đ tiến hành kiểm tra quán “Karaoke 333”, phát hiện trong phòng hát trên mặt bàn bằng kính gần vị trí M1, H, M3 và T1 đang ngồi có chất bột màu trắng là ma túy (ký hiệu M1 có chữ ký của H, T1, T) và một lon bia Tiger bạc dưới đáy có bám dính chất màu trắng là ma túy (ký hiệu M2 có chữ ký của H, T1, T) và 01 bật lửa gas màu xanh trong giỏ bánh kẹo, ở gần bàn gần vị trí Q1 và T3 ngồi có 03 đoạn ống hút nhựa ở dưới nền gạch, gần vị trí Q, T2, C, N và T ngồi trên thành ghế tiếp giáp với vách tường phát hiện một lon bia Tiger bạc dưới đáy có bám dính chất màu trắng (ký hiệu M4 có chữ ký của H, T, T) và trên thành tường có chất bột màu trắng bám dính (ký hiệu M3 có chữ ký của H, T, T), tiếp tục kiểm tra phát hiện giữa khe hở tại vị trí đặt loa và vách tường có 01 gói nylon hình chữ nhật bên trong có chứa chất màu trắng (ký hiệu M5 có chữ ký của H, T1, T) và 01 tờ tiền giấy mệnh giá 1000 đồng. Thấy có dấu hiệu tội phạm, nên Công an huyện B đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong tang vật (ký hiệu M1 đến M5 có chữ ký của H, T, T), đồng thời thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh của Trần Đức T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu đen; 01 điện thoại Iphone màu xanh, 01 điện thoại Iphone XS Max màu vàng của Trần Thanh T; 01 điện thoại OPPO của Lê Văn H để phục phục vụ công tác điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

- Tại Kết luận giám định số: 538/KL-KTHS ngày 31/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B, kết luận:

  • Chất màu trắng (ký hiệu M1, M4) được niêm phong gửi giám định là ma túy; loại Ketamine; có khối lượng lần lượt là: M1 = 0,0121 gam; M4 = 0,0309 gam.
  • Chất màu trắng (ký hiệu M2) bám dính dưới đáy lon bia được niêm phong gửi giám định là ma túy; loại Ketamine; không xác định khối lượng do mẫu ở dạng vết.
  • Chất bột màu trắng (ký hiệu M3) bên trong gói giấy màu bạc được niêm phong gửi giám định là ma túy; loại Ketamine; có khối lượng là: 0,2367 gam.
  • Tinh thể màu trắng (ký hiệu M5) bên trong gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy; loại Ketamine; có khối lượng là: 0,6424 gam.

- Về vật chứng vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B đã xử lý:

  • + 01 điện thoại Iphone màu xanh, 01 điện thoại Iphone XS Max màu vàng của Trần Thanh T, 01 điện thoại OPPO của Lê Văn H không dùng việc phạm tội, nên trả lại cho T và H.
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh của Trần Đức T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu đen của Trần Thanh T; 01 bật lửa gas màu xanh; 03 đoạn ống hút nhựa; 01 thư bì thư đã được niêm phong đựng mẫu hoàn lại sau giám định số: 538/KL-KTHS ngày 31/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 tờ tiền giấy mệnh giá 1000 đồng chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng để phục vụ việc truy tố, xét xử.

Tại Cáo trạng số 105/CT-VKS - BĐ ngày 29/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố các bị cáo Lê Văn H, Trần Đức T1 và Trần Thanh T về T4 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát tuy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn H, Trần Đức T1 và Trần Thanh T phạm Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.

Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thanh T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Đức T1 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Các bị cáo Lê Văn H, Trần Thanh T và Trần Đức T1 thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 15 giờ ngày 23/5/2024, Lê Văn H, Trần Thanh T, Trần Đức T1 bàn bạc thống nhất mua ma túy, loại Ketamine với giá 3.000.000 đồng của một người đàn ông (không biết nhân thân, lý lịch) về tổ chức sử dụng tại phòng VIP 1 quán K1 thuộc thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Khi người đàn ông mang ma tuý đến, thì H, T, T1 mang ra sử dụng và cho Lê Văn C, Danh Thị Ý N, Điểu Thị M1, Đỗ Hồng T3, Phạm Thị Diễm M3, Phạm Minh T2 là người thụ hưởng ma túy cùng sử dụng đến khoảng 17 giờ 45 phút cùng ngày 23/5/2024, thì bị Công an huyện B phối hợp với Công an xã Đ kiểm tra, phát hiện bắt quả tang việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng tang vật của H, T, T1.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của các bị cáo Lê Văn H, Trần Thanh T và Trần Đức T1 đã phạm vào Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

b) Đối với 02 người trở lên;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hại cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Khi phạm tội các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Nhận thức rõ được mọi hành vi liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật, là nguyên nhân có thể gây ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Tuy nhiên, do lối sống buông thả nên các bị cáo đã tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Xét toàn bộ vụ án, tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng.

Bị cáo Lê Văn H khởi xướng việc sử dụng ma túy và trực tiếp chuẩn bị công cụ và ma túy để sử dụng. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với và trò khởi xướng và là người thực hành tích cực.

Đối với bị cáo Trần Thanh T là người trả tiền mua ma túy và Trần Đức T1 là người cung cấp ma túy cho các bị cáo sử dụng nên hai bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo là con em lao động có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo Lê Văn H có con còn nhỏ, gia đình có công với cách mạng; bị cáo T có hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn, bị cáo T1 có mẹ già đang ở cùng với bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Sau khi cân nhắc mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Tuy nhiên, do các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Đối với 01 điện thoại Iphone màu xanh, 01 điện thoại Iphone XS Max màu vàng của Trần Thanh T, 01 điện thoại OPPO của Lê Văn H không liên quan đến việc phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Cần tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh của Trần Đức T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu đen của Trần Thanh T; 01 tờ tiền giấy mệnh giá 1000 đồng.

Cần tịch thu tiêu hủy: 01 bật lửa gas màu xanh; 03 đoạn ống hút nhựa; 01 thư bì thư đã được niêm phong đựng mẫu hoàn lại sau giám định số: 538/KL-KTHS ngày 31/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

- Đối với một người đàn ông không biết nhân thân, lý lịch (Trần Đức T1 lưu tên là Đ) bán ma túy cho T1. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện B đã ban hành Công văn số 442/CV-CSMT ngày 12/8/2024 gửi đến Bộ phận chính trị Viettel tỉnh B để xác định thông tin chủ thuê bao của số điện thoại 0348.093.xxx, nhưng đến nay chưa nhận được công văn trả lời. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau.

- Trần Thanh T xác định dùng số tài khoản của T là 3126799999 mở tại ngân hàng T6 chuyển 3.000.000 đồng vào số tài khoản 5606205269166 mang tên “NGUYEN THI THU HA” có tên Nguyễn Thị Thu H3, nơi thường trú: thôn D, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện B, đã tiến hành xác minh Nguyễn Thị Thu H3 không có mặt tại địa phương, không biết đi đâu, chưa làm việc được. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B tách ra xác minh xử lý sau.

- Hành vi cất giữ 0,6424 gam ma túy, loại Ketamine của Lê Văn H chưa đủ khối lượng cấu thành Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự. Hơn nữa, số ma tuý khi bắt quả tang thu giữ thì các bị cáo vẫn còn đang tiếp tục sử dụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với Danh Thị Ý N và Điểu Thị M1 đều là nhân viên của quán Karaoke, khi được Lê Văn H nhờ dùng quẹt gas cà lên tờ tiền 1.000 đồng, H đã gấp kín tờ tiền 1.000 đồng có chứa ma túy. N và M1 không biết bên trong tờ tiền 1.000 đồng có chứa ma túy, nên mới cà tờ tiền theo H. Hành vi của N và M1 không đủ yếu tố cấu thành Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự với vai trò giúp sức; Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với ông Phạm Ngọc H2 là chủ của quán K1, ông H2 có Giấy phép kinh doanh Karaoke và không biết các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với Danh Thị Ý N, Điểu Thị M1, Phạm Thị Diễm M3, Đỗ Hồng T3, Phạm Minh T2 và Lê Văn C có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B đã ra Quyết định xử phạt hành chính theo đúng quy định.

Quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Lê Văn H, Trần Thanh T và Trần Đức T1 phạm Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Văn H 08 năm, 06 tháng tù (tám năm, sáu tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 23/5/2024.

Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 08 năm tù (tám năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày 23/5/2024.

Xử phạt bị cáo Trần Đức T1 08 năm tù (tám năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày 23/5/2024.

[2] Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên tịch thu hoá sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh của Trần Đức T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu đen của Trần Thanh T.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: Số tiền 1.000 đồng (Theo giấy nộp tiền ngày 29/10/2024).

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 bật lửa gas màu xanh; 03 đoạn ống hút nhựa; 01 thư bì thư đã được niêm phong đựng mẫu hoàn lại sau giám định số: 538/KL-KTHS ngày 31/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng số 0010182 ngày 29/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng).

[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Văn H, Trần Thanh T và Trần Đức T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Bình Phước.
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Công an tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Bù Đăng;
  • - CCTHADS huyện Bù Đăng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Khắc Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HSST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 bộ luật hình sự)

  • Số bản án: 110/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 Bộ luật Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn H, K2, Đ 255, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger