Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/HS-ST

Ngày 15-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Doanh

  • Các Hội thẩm nhân dân.

    • 1. Ông Đinh Thế Cần;

    • 2. Bà Phạm Thị Hương.

  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Trần Viết Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 97/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024; Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử vụ án số 14/TB-TA ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh ngày 18/12/1983, tại xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1959; vợ: Nguyễn Thị O, sinh năm 1986; có 2 con, sinh năm 2005 và 2013; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/7/2024, tại xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

(Bị cáo có mặt tại phiên toà).

* Bị hại:

  • Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1961; nơi cư trú: Thôn S, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1973, nơi cư trú: Thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người làm chứng:

  • Anh Vũ Đức P, sinh năm 1988, nơi cư trú: Thôn D, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (vắng mặt);

  • Chị Nguyễn Thị Ánh H, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (vắng mặt);

  • Anh Vũ Duy K, sinh năm 1994, nơi cư trú: Thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (vắng mặt);

  • Anh Nguyễn Bá N, sinh năm 1973, nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T có giấy phép lái xe ô tô hạng C, số [...], do Sở Giao thông Vận tải tỉnh T cấp ngày 15/4/2021, có giá trị đến ngày 15/4/2026, ký hợp đồng lái xe ô tô cho anh Nguyễn Ngọc C, sinh ngày 01/01/1973, cư trú tại thôn P, xã Q, huyện Q. Chiều ngày 06/02/2024, anh C điều động T điều khiển xe ô tô tải có mui, nhãn hiệu Foton, số loại Thaco Ollin700, màu sơn trắng, biển số 17C-059.71, tải trọng hàng hóa 6950 kg, 3 chỗ ngồi, chở thức ăn gia súc (cám) đi giao cho khách hàng ở xã A, thị trấn A, huyện Q. Cùng đi có anh Vũ Duy K, sinh ngày 20/10/1994, cư trú tại thôn L, xã Q, huyện Q (ngồi ở giữa) và anh Nguyễn Bá N, sinh ngày 08/02/1973, cư trú tại thôn N, xã Q, huyện Q (ngồi ghế phụ bên phải) làm nhiệm vụ bốc xếp. Sau khi giao hết hàng, T điều khiển xe ô tô theo đường liên xã, hướng xã A đi xã A để về xã Q, huyện Q. Khoảng 16 giờ 35 phút, xe ô tô T điều khiển đi đến đường thuộc thôn A, xã A, huyện Q. Đoạn đường thẳng được rải đá láng nhựa tương đối bằng phẳng, rộng 04 mét. Giáp mép đường bên phải chiều xã A đi xã A là lề đường đất cỏ mọc rộng 1,1 mét, tiếp đến cánh đồng thấp hơn mặt đường 1,2 mét, mực nước trên ruộng là 0,2 mét, về phía đi xã A có cột điện cao thế số 24/6 (ký hiệu A). Giáp mép đường bên trái chiều xã A đi xã A là lề đường đất cỏ mọc rộng 1,5 mét, tiếp đến cánh đồng. Lúc này, thời tiết lạnh, không mưa, mặt đường khô, cửa kính xe ô tô đóng kín. T không sử dụng rượu bia, ma túy hoặc chất kích thích, điều khiển xe đi với tốc độ khoảng 40 km/h, ở chiều đường bên phải, cách mép đường gần 01 mét. Phía trước cùng chiều, cách đầu xe khoảng 30 mét có xe đạp điện, màu sơn xanh trắng, sau biết do bà Nguyễn Thị B, sinh ngày 01/01/1961, cư trú tại thôn S, xã A, huyện Q, không đội mũ bảo hiểm điều khiển đi với tốc độ khoảng 10 km/h, sát mép đường bên phải; phía ngược chiều cách khoảng 50 mét có xe ô tô con, màu sơn trắng đang đi tới. T không có tín hiệu xin vượt bằng còi nhưng vẫn quyết định vượt lên bên trái xe đạp điện bà B điều khiển. Khi đầu xe ô tô vừa qua xe đạp điện cũng là lúc xe ô tô con, màu sơn trắng đi ngược chiều tới. Để tránh va chạm với xe ô tô con, T đã đánh lái điều khiển xe ô tô vào mé đường bên phải nên mặt ngoài bên phải sàn thùng và đèn thứ 3 bên phải thành thùng xe ô tô đã va quệt với bà B và tay lái bên trái xe đạp điện. Do va chạm, xe đạp điện đổ phải, trượt rê 1,4 mét vào lề đường bên phải rơi xuống ruộng, bà B ngã nằm dưới ruộng. Anh K ngủ ngật, anh N xem điện thoại, T không quan sát gương chiếu hậu bên phải, không biết xe ô tô đã va chạm với xe đạp điện và bà B nên vẫn điều khiển xe đi bình thường. Cùng lúc này, anh Vũ Đức P, sinh ngày 24/6/1988, cư trú tại thôn D, xã A, huyện Q, điều khiển xe mô tô chiều xã A đi xã A (sau xe ô tô con, màu sơn trắng) đi ngang qua nghe tiếng va chạm, quay lại thì thấy xe đạp điện và bà B bị đổ, ngã xuống ruộng. Anh P điều khiển xe quay lại nhìn thấy bà B nằm úp ở dưới ruộng, xe ô tô tải, màu sơn trắng đi về phía xã A, nên đã đọc lại biển số xe và xuống nâng Bìa dậy. Chị Nguyễn Thị Ánh H, sinh ngày 18/3/1981, cư trú tại thôn A, xã A, huyện Q, đi qua dừng lại cùng anh P đưa bà B lên đường. Sau khi bà B được người dân đưa đi cấp cứu, anh P đến Công an xã A, huyện Q trình báo, cung cấp biển số xe ô tô tải. Nhận được tin báo, Công an xã A đã xác minh, gọi điện báo cho chủ phương tiện là anh C biết. T điều khiển xe đi tới xã Q, huyện Q nhận được cuộc gọi của anh C đã chủ động điều khiển xe ô tô về Công an huyện Q. Hậu quả: Bà B bị chấn thương sọ não, vỡ thành ngoài xoang hàm trái, gãy xương đòn trái, gãy xương sườn 2, 8, 9 bên trái, xương sườn 3, 4, 5, 6, 7 bên trái (cung trước và sau), tổn thương màng phổi trái, mắt trái teo dây thị giác sau chấn thương sọ não... được đưa tới Bệnh viện Đ, huyện Q, sau chuyển Bệnh viện Đa khoa tỉnh T điều trị, đợt 1 từ ngày 06/02/2024 đến ngày 23/02/2024; đợt 2 từ ngày 02/4/2024 đến ngày 22/4/2024; tỷ lệ tổn thương cơ thể là 83%; các phương tiện hư hỏng nhẹ.

Cáo trạng số 107/CT-VKSQP ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và đúng như nội dung mô tả trong bản Cáo trạng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.

- Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên. Bị cáo Nguyễn Văn T nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy:

[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án; phù hợp với biên bản vụ việc hành chính; biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông (kèm bản ảnh) (bút lục số 1, 6 - 9; 114 - 121; 263 - 267); biên bản khám nghiệm các phương tiện liên quan trong tai nạn giao thông (kèm bản ảnh) (bút lục số 22 - 25; 268 - 284); bệnh án nội, ngoại khoa của Bệnh viện đa khoa tỉnh T (bút lục số 28 - 44; 95 - 105); giấy chứng nhận thương tích ngày 05/3/2024 của Bệnh viện đa khoa Phụ Dực huyện Đ, tỉnh Thái Bình (bút lục số 26); giấy chứng nhận thương tích số 14/CN, ngày 21/02/2024 đối với Nguyễn Thị B của Bệnh viện Đa khoa tỉnh T (bút lục số 27); Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 106/KLTTCT-TTPY, ngày 15/3/2024 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh T: “1. Các kết quả chính: Trán đỉnh thái dương phải có vết sẹo mổ nhỏ; Đường nách trước bên trái tương ứng khoang liên sườn số 5 có vết sẹo nhỏ dẫn lưu; Mặt sau cổ tay trái có vết sẹo nhỏ; Tụ máu dưới màng cứng không còn trên chẩn đoán hình ảnh; Chảy máu dưới nhện không còn trên chẩn đoán hình ảnh; Tổn thương nhu mô não (ổ giảm tỷ trọng); Ô khuyết sọ thái dương phải đường kính (126x94)mm; Vỡ thành ngoài xoang hàm trái; Gãy xương đòn trái; Gãy xương sườn 2 bên trái; Gãy xương sườn 3 bên trái (cung trước và cung sau); Gãy xương sườn 4 bên trái (cung trước và cung sau); Gãy xương sườn 5 bên trái (cung trước và cung sau); Gãy xương sườn 6 bên trái (cung trước và cung sau); Gãy xương sườn 7 bên trái (cung trước và cung sau); Gãy xương sườn 8 bên trái; Gãy xương sườn 9 bên trái; Tổn thương màng phổi trái (dịch màng phổi trái). 2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định: Tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Nguyễn Thị B tại thời điểm giám định là 76%). Hiện tại mắt trái nhìn mờ chưa khám được chuyên khoa mắt. Đề nghị giám định bổ sung (bút lục số 50 - 53); Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 242/KLTTCT-TTPY, ngày 07/6/2024 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh T: “1. Các kết quả chính: Trán đỉnh thái dương phải có vết sẹo mổ nhỏ; Vùng đỉnh phải có 02 vết sẹo dẫn lưu: Vết thứ nhất sẹo nhỏ, vết thứ hai sẹo nhỏ; Vùng chẩm có vết loét đã liền sẹo nhỏ; Từ vùng trán trái đến gò má trái có vết xây xát đã bong vảy biến đổi sắc tố; Vùng ngực trái có vết sẹo nhỏ; Đường nách trước bên trái tương ứng khoang liên sườn số 5 có vết sẹo nhỏ dẫn lưu; Mặt sau cổ tay trái có vết sẹo nhỏ; Tụ máu dưới màng cứng không còn trên chẩn đoán hình ảnh; Chảy máu dưới nhện không còn trên chẩn đoán hình ảnh; Tổn thương nhu mô não (ổ giảm tỷ trọng); Vùng thái dương phải có ổ khuyết sọ đáy chắc đường kính (126x94) mm; Vỡ thành ngoài xoang hàm trái; Gãy xương đòn trái; Gãy xương sườn 2 bên trái; Gãy xương sườn 3 bên trái (cung trước và cung sau); Gãy xương sườn 4 bên trái (cung trước và cung sau); Gãy xương sườn 5 bên trái (cung trước và cung sau); Gãy xương sườn 6 bên trái (cung trước và cung sau); Gãy xương sườn 7 bên trái (cung trước và cung sau); Gãy xương sườn 8 bên trái; Gãy xương sườn 9 bên trái; Tổn thương màng phổi trái (dịch màng phổi trái); Mắt trái teo dây thần kinh thị giác sau chấn thương sọ não. 2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định: Tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Nguyễn Thị B tại thời điểm giám định là 83% (bút lục số 109 - 112); biên bản đo nồng độ cồn của Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện Q đối với Nguyễn Văn T hồi 21 giờ 10 phút ngày 06/02/2024, kết quả: “0,000mg/l” (bút lục số 162); phiếu xét nghiệm sinh hóa nước tiểu ngày 07/02/2024 của Bệnh viện Đ, tỉnh Thái Bình, đối với Nguyễn Văn T: “Âm tính với các chất ma túy” (bút lục số 164); kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu (lấy mẫu hồi 18 giờ 22 phút ngày 06/02/2024) kết luận bà Nguyễn Thị B có mức cồn trong máu dưới mức phát hiện (bút lục số 177); Công văn số 797/SGTVT-QLVTPTNL, ngày 12/4/2024 của Sở Giao thông vận tải tỉnh T: “Ngày 15/01/2021, Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp giấy phép lái xe ô tô hạng C, số [...], giá trị đến ngày 15/04/2024 cho Nguyễn Văn T, sinh ngày 18/12/1983, cư trú: xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình” (bút lúc số 72); biên bản ghi lời khai của bị hại Nguyễn Thị B (bút lục số 208 - 217); Biên bản ghi lời khai của những người làm chứng anh Vũ Đức P (bút lục số 218 - 223); chị Nguyễn Thị Ánh H (bút lục số 224 - 227); anh Vũ Duy K (bút lục số 232 - 235); anh Nguyễn Bá N (bút lục số 236 - 239); biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc C (bút lục số 228 - 231), cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[2.2] Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 16 giờ 35 phút ngày 06/02/2024, tại đường liên xã A đi xã A, thuộc thôn A, xã A, huyện Q, Nguyễn Văn T có giấy phép lái xe ô tô hạng C, điều khiển xe ô tô tải có mui nhãn hiệu Foton, số loại Thaco Ollin700, màu sơn trắng, biển số 17C-059.71, đi với tốc độ khoảng 40 km/h, ở phần đường bên phải, chiều xã A đi xã A, khi phía trước cùng chiều, cách đầu xe khoảng 30 mét, có xe đạp điện, màu sơn xanh trắng do bà Nguyễn Thị B, không đội mũ bảo hiểm điều khiển, phía ngược chiều cách khoảng 50 mét có xe ô tô con, màu sơn trắng đang đi tới. T không có tín hiệu xin vượt bằng còi nhưng vẫn điều khiển xe ô tô vượt lên bên trái xe đạp điện. Khi đầu xe ô tô vừa qua xe đạp điện thì xe ô tô con, màu sơn trắng đi ngược chiều tới. Để tránh va chạm với xe ô tô con, T đánh lái điều khiển xe ô tô vào mé đường bên phải nên mặt ngoài bên phải sàn thùng và đèn thứ 3 bên phải thành thùng xe ô tô đã va quệt với người bà B và tay lái bên trái xe đạp điện, làm cho bà B và xe đạp điện bị ngã, đổ xuống ruộng nước bên phải chiều đi. Hậu quả: Bà B bị chấn thương sọ não, vỡ thành ngoài xoang hàm trái, gãy xương đòn trái, gãy xương sườn 2, 8, 9 bên trái, xương sườn 3, 4, 5, 6, 7 bên trái (cung trước và sau), tổn thương màng phổi trái, mắt trái teo dây thị giác sau chấn thương sọ não, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 83%; các phương tiện hư hỏng nhẹ.

Hành vi của Nguyễn Văn T đã vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ, gây thương tích đối với một người tỷ lệ tổn thương cơ thể là 83%.

Điều 14. Vượt xe

"1. Xe xin vượt phải có báo hiệu bằng đèn hoặc còi; trong đô thị và khu đông dân cư từ 22 giờ đến 5 giờ chỉ được báo hiệu xin vượt bằng đèn.

2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải...".

Do đó đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

  • Làm chết người;

  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; ...

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông. Bản thân bị cáo được học và được cấp giấy phép lái xe theo quy định, nhận thức rõ việc điều khiển xe ô tô tham gia giao thông là đang sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ. Bị cáo điều khiển xe ô tô nhưng không có tín hiệu xin vượt xe đạp điện do bà B điều khiển bằng còi nhưng vẫn điều khiển xe ô tô vượt lên bên trái xe đạp điện của bà B, đồng thời tránh xe ô tô con đi ngược chiều đến, nên mặt ngoài bên phải sàn thùng và đèn thứ 3 bên phải thành thùng xe ô tô đã va quệt với người bà B và tay lái bên trái xe đạp điện, làm cho bà B và xe đạp điện bị ngã, đổ xuống ruộng nước bên phải chiều đi. Hậu quả: Bà B bị chấn thương sọ não tỷ lệ tổn thương cơ thể là 83%. Do đó việc xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự là cần thiết nhằm răn đe, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo nói riêng và đấu tranh, ngăn chặn đối với tội phạm về trật tự an toàn giao thông nói chung.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, tự nguyện bồi thường cho bị hại, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Từ những nhận định nêu trên, đối chiếu với các quy định của pháp luật và xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú ổn định, có khả năng cải tạo thành công dân có ích cho xã hội nên không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo cũng đủ để đạt được mục đích của hình phạt.

[6] Về hình phạt bổ sung: Trong vụ án này, thương tích của bị hại là nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo; bị cáo làm nghề lao động tự do. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

[7.1] Chiếc xe ô tô tải có mui nhãn hiệu Foton, số loại Thaco Ollin700, màu sơn trắng, biển số 17C-059.71 của anh Nguyễn Ngọc C; chiếc xe đạp điện của bị hại Nguyễn Thị B. Do vậy, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý trả các phương tiện cho chủ sở hữu là phù hợp.

[7.2] Đối với Giấy phép lái xe ô tô hạng C, số [...], do Sở Giao thông Vận tải tỉnh T cấp ngày 15/4/2021 mang tên Nguyễn Văn T cần trả cho bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn T đã thỏa thuận, bồi thường chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng phục hồi sức khỏe, thu nhập bị mất của bị hại, người chăm sóc, bù đắp tổn thất về tinh thần cho bị hại Nguyễn Thị B số tiền 200.000.000 đồng. Bị hại đã nhận số tiền trên, không còn yêu cầu đề nghị về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Số tiền bồi thường thiệt hại và việc thanh toán bảo hiểm trách nhiệm dân sự, bị cáo T và chủ phương tiện là anh Nguyễn Ngọc C tự giải quyết nên không đặt ra để giải quyết.

Đối với hành vi không đội mũ bảo hiểm khi điều khiển xe đạp điện tham gia giao thông của bà Nguyễn Thị B, C1 huyện Q ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/11/2024).

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo Nguyễn Văn T 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C, số [...], do Sở Giao thông Vận tải tỉnh T cấp ngày 15/4/2021.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 590, 601 Bộ luật Dân sự, ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường trách nhiệm dân sự giữa bị cáo với bị hại số tiền 200.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường xong.

  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/11/2024). Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết, tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Bình;

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;

  • - Sở Tư pháp Thái Bình;

  • - Bị cáo; bị hại;

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

  • - VKSND huyện Quỳnh Phụ;

  • - Cơ quan điều tra, Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Quỳnh Phụ;

  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quỳnh Phụ;

  • - Ủy ban nhân dân xã Quỳnh Thọ;

  • - Lưu: HSVA, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Doanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 110/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội VPQĐVTGGTDB
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger