Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN AN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/HS-ST

Ngày: 14 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tuyến.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Văn Hải.

Bà Trần Thị Chiếm.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Lê Thị Tuyết Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Diệu - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 111/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ tên: Nguyễn Văn P; sinh năm 2001 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã T, thị xã S, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Họ tên cha: Nguyễn Văn M, sinh năm: 1980; Họ tên mẹ: Phan Thị H, sinh năm: 1980; Anh chị em ruột: 01 người; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo Nguyễn Văn P bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú trong quá trình điều tra truy tố (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thanh L, sinh năm 1973 (vắng mặt);
  2. Địa chỉ: số D T, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.

  3. Bà Nguyễn Thị Thanh L1, sinh năm 1970 (vắng mặt);
  4. Địa chỉ: số C N, phường K, thành phố T, tỉnh Long An.

  5. Bà Lê Thị Ngọc C, sinh năm 2003 (vắng mặt);
  6. Địa chỉ: ấp V, xã T, huyện T, tỉnh Long An.

  7. Bà Trần Thị L2, sinh năm 1969 (vắng mặt);
  8. Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

  9. Bà Hồ Thị H1, sinh năm 1989 (vắng mặt);
  10. Địa chỉ: số B tổ H, ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

  11. Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1980 (vắng mặt);
  12. Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn kiếm tiền tiêu xài, bị cáo Nguyễn Văn P cho những người có nhu cầu vay với lãi suất cao không cần thế chấp tài sản để thu tiền lãi. P yêu cầu người vay cho xem giấy tờ tùy thân chụp ảnh rồi trả lại cho vay theo hình thức tín chấp hoặc có khi thế chấp giấy tờ tùy thân. Tiền gốc cho vay, P chuyển khoản hoặc giao tiền mặt cho người vay, trừ sẵn tiền góp 02 ngày tiếp theo vào số tiền gốc cho vay. Người vay trả góp ngày bằng hình thức chuyển khoản vào số tài khoản 1903522160018 mở tại Ngân hàng T1 hoặc số tài khoản 797925069999 mở tại Ngân hàng M2 của Nguyễn Văn P hoặc giao tiền mặt cho P. Từ tháng 3/2023 đến tháng 12/2023, P cho 06 người vay tiền 13 lần với số tiền vay gốc từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, trong thời hạn từ 25 ngày đến 42 ngày tùy số tiền gốc vay, bằng hình thức trả góp cả tiền gốc và tiền lãi theo ngày từ 200.000 đồng đến 800.000 đồng/ngày. Cụ thể như sau:

  1. Từ tháng 4/2023 đến tháng 9/2023, P cho Nguyễn Thanh L vay 05 lần:
    • Lần 1: Ngày 17/4/2023, Nguyễn Thanh L vay số tiền 10.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày cả tiền gốc và lãi số tiền 300.000 đồng, trong vòng 42 ngày, đã trả xong tổng số tiền gốc và lãi là 12.600.000 đồng, trong đó tiền lãi là 2.600.000 đồng, tương đương lãi suất 226%/năm, vượt hơn gấp 5 lần lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự; lãi suất theo quy định là 230.137 đồng; thu lợi bất chính số tiền 2.369.863 đồng.
    • Lần 2: Ngày 20/5/2023, Nguyễn Thanh L vay số tiền 10.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày cả tiền gốc và lãi số tiền 300.000 đồng, trong vòng 42 ngày, đã trả xong tổng số tiền gốc và lãi là 12.600.000 đồng, trong đó tiền lãi là 2.600.000 đồng, tương đương lãi suất 226%/năm, vượt hơn gấp 5 lần lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự; lãi suất theo quy định là 230.137 đồng, thu lợi bất chính số tiền 2.369.863 đồng.
    • Lần 3: Ngày 19/6/2023, Nguyễn Thanh L vay số tiền 10.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày cả tiền gốc và lãi số tiền 300.000 đồng, trong vòng 42 ngày, đã trả xong tổng số tiền gốc và lãi là 12.600.000 đồng, trong đó tiền lãi là 2.600.000 đồng, tương đương lãi suất 226%/năm, vượt hơn gấp 5 lần lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự; lãi suất theo quy định là 230.137 đồng, lãi suất theo quy định là 230.137 đồng, thu lợi bất chính số tiền 2.369.863 đồng.
    • Lần 4: Ngày 21/7/2023, Nguyễn Thanh L vay số tiền 15.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày cả tiền gốc và lãi số tiền 450.000 đồng, trong vòng 42 ngày. Bà L đã trả xong khoản vay cho bị cáo P với tổng số tiền gốc và lãi là 18.900.000 đồng, trong đó tiền lãi là 3.900.000 đồng, tương đương lãi suất 226%/năm, vượt hơn gấp 5 lần lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự; lãi suất theo quy định là 345.205 đồng, thu lợi bất chính số tiền 3.554.795 đồng.
    • Lần 5: Ngày 21/8/2023, Nguyễn Thanh L vay số tiền 15.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày cả tiền gốc và lãi số tiền 450.000 đồng, trong vòng 42 ngày. Bà L đã trả xong khoản vay cho bị cáo P với tổng số tiền gốc và lãi là 18.900.000 đồng, trong đó tiền lãi là 3.900.000 đồng, tương đương lãi suất 226%/năm, vượt hơn gấp 5 lần lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự; lãi suất theo quy định là 345.205 đồng, thu lợi bất chính số tiền 3.554.795 đồng.
  2. Khoảng tháng 7/2023, P cho Nguyễn Thị Thanh L1 vay số tiền 5.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày cả tiền gốc và lãi số tiền 200.000 đồng, trong vòng 31 ngày, đã trả xong tổng số tiền gốc và lãi là 6.200.000 đồng, trong đó tiền lãi là 1.200.000 đồng, tương đương lãi suất 283%/năm, vượt hơn gấp 5 lần lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự; lãi suất theo quy định là 84.932 đồng thu lợi bất chính số tiền 1.115.068 đồng.
  3. Khoảng tháng 6/2023 đến tháng 10/2023, P cho Lê Thị Ngọc C vay 02 lần:
    • Lần 1: Số tiền gốc vay 5.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày cả tiền gốc và lãi số tiền 250.000 đồng, trong vòng 25 ngày, đã trả xong khoản vay cho P với tổng số tiền gốc và lãi là 6.250.000 đồng, trong đó tiền lãi là 1.250.000 đồng, tương đương lãi suất 365%/năm, vượt hơn gấp 5 lần lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự; lãi suất theo quy định là 68.493 đồng, thu lợi bất chính số tiền 1.181.507 đồng.
    • Lần 2: Số tiền gốc vay 5.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày cả tiền gốc và lãi số tiền 250.000 đồng, trong vòng 25 ngày, đã trả xong khoản vay cho P với tổng số tiền gốc và lãi là 6.250.000 đồng, trong đó tiền lãi là 1.250.000 đồng, tương đương lãi suất 365%/năm, vượt hơn gấp 5 lần lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự; lãi suất theo quy định là 68.493 đồng, thu lợi bất chính số tiền 1.181.507 đồng.
  4. Khoảng tháng 3/2023 đến tháng 12/2023, P cho Trần Thị L2, vay 02 lần:
    • Lần 1: Số tiền gốc vay 10.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày cả tiền gốc và lãi số tiền 300.000 đồng, trong vòng 42 ngày, đã trả xong tổng số tiền gốc và lãi là 12.600.000 đồng, trong đó tiền lãi là 2.600.000 đồng, tương đương lãi suất 226%/năm, vượt hơn gấp 5 lần lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự; lãi suất theo quy định là 203.137 đồng, thu lợi bất chính số tiền 2.369.863 đồng.
    • Lần 2: Số tiền gốc vay 5.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày cả tiền gốc và lãi số tiền 250.000 đồng, trong vòng 25 ngày, đã trả xong khoản vay cho bị cáo P với tổng số tiền gốc và lãi là 6.200.000 đồng, trong đó tiền lãi là 1.200.000 đồng, tương đương lãi suất 283%/năm, vượt hơn gấp 5 lần lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự; lãi suất theo quy định là 84.932 đồng, thu lợi bất chính số tiền 1.115.068 đồng.
  5. Từ tháng 7/2023 đến tháng 8/2023, P cho Nguyễn Thị Kim T, vay 02 lần:
    • Lần 1: Ngày 11/7/2023, Nguyễn Thị Kim T vay số tiền 15.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày cả tiền gốc và lãi số tiền 800.000 đồng, trong vòng 25 ngày, đã trả xong khoản vay cho P với tổng số tiền gốc và lãi là 20.000.000 đồng, trong đó tiền lãi là 5.000.000 đồng, tương đương lãi suất 487%/năm, vượt hơn gấp 5 lần lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự; lãi suất theo quy định là 205.479 đồng, thu lợi bất chính số tiền 4.794.521 đồng.
    • Lần 2: Ngày 03/8/2023, Nguyễn Thị Kim T vay số tiền 15.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày cả tiền gốc và lãi số tiền 800.000 đồng, trong vòng 25 ngày, đã trả xong khoản vay cho P với tổng số tiền gốc và lãi là 20.000.000 đồng, trong đó tiền lãi là 5.000.000 đồng, tương đương lãi suất 487%/năm, vượt hơn gấp 5 lần lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự; lãi suất theo quy định là 205.479 đồng, thu lợi bất chính số tiền 4.794.521 đồng.
  6. P cho Hồ Thị H1 vay 01 lần số tiền 10.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày cả tiền gốc và lãi số tiền 400.000 đồng, trong vòng 31 ngày, đã trả xong khoản vay cho P với tổng số tiền gốc và lãi là 12.400.000 đồng, trong đó tiền lãi là 2.400.000 đồng, tương đương lãi suất 283%/năm, vượt hơn gấp 5 lần lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự; lãi suất theo quy định là 169.863 đồng, thu lợi bất chính số tiền 2.230.137 đồng.

Như vậy, từ khoảng tháng 3/2023 đến tháng 12/2023 Nguyễn Văn P đã cho 06 người dân vay tiền bằng hình thức trả góp theo ngày với tổng số tiền gốc vay là 130.000.000 đồng, với mức lãi suất tương ứng từ 226% đến 487%/năm, vượt quá 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tổng thu lãi và gốc là 165.500.000 đồng, tổng thu lợi bất chính là 33.001.370 đồng.

Ngoài ra những lần cho vay trên, ngày 22/9/2023, P cho Nguyễn Thanh L vay số tiền 15.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày cả tiền gốc và lãi số tiền 450.000 đồng, trong vòng 42 ngày. Bà L đã trả cho P số tiền 2.250.000 đồng. P và bà L đã thống nhất không trả và thu tiền nữa. P cho Nguyễn Thị P1 vay 10.000.000 đồng nhưng hiện bà P1 không có ở địa phương, các khoản vay giao dịch bằng tiền mặt đã thực hiện xong nên không có cơ sở để xác định tiền lãi.

Cơ quan điều tra thu giữ:

  • - 01 thẻ căn cước công dân số [...] tên Trần Thị L2;
  • - 01 thẻ căn cước công dân số [...] tên Nguyễn Thị Thanh L1;
  • - 01 thẻ căn cước công dân số [...] tên Nguyễn Văn P;
  • - 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax.

Cơ quan điều tra đã trả 03 thẻ căn cước công dân trên cho Trần Thị L2, Nguyễn Thị Thanh L1 và Nguyễn Văn P. Hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An đang tạm giữ 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax.

Tại bản cáo trạng số 107/CT-VKSTA-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An truy tố Nguyễn Văn P về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” được quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên toà, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà Nguyễn Văn P gây ra; đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Nguyễn Văn P phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Hình phạt chính: Căn cứ Điều 35, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Nguyễn Văn P 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.

Hình phạt bổ sung: Không.

Biện pháp tư pháp:

Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, đề nghị:

  • - Buộc Nguyễn Văn P nộp lại 130.000.000 đồng tiền gốc vay là số tiền dùng vào việc phạm tội sung công quỹ Nhà nước.
  • - Buộc Nguyễn Văn P nộp lại số tiền 2.498.630 đồng tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà người phạm tội đã thu của người vay sung quỹ Nhà nước
  • - Buộc Nguyễn Văn P trả lại cho những người vay tổng cộng 33.001.370 đồng là số tiền thu lợi bất chính, cụ thể: Trả cho Nguyễn Thanh L 14.219.178 đồng; Trả cho Nguyễn Thị Thanh L1 1.115.068 đồng; Trả cho Lê Thị Ngọc C 2.363.014 đồng; Trả cho Trần Thị L2 3.484.931 đồng; Trả cho Nguyễn Thị Kim T 9.589.041 đồng; Trả cho Hồ Thị H1 2.230.137 đồng.

Xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax của Nguyễn Văn P.

Về trách nhiệm dân sự: Không.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn P tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Thấy rằng, do muốn cho vay thu tiền lãi lấy tiền tiêu xài, từ tháng 3/2023 đến tháng 12/2023, Nguyễn Văn P cho Nguyễn Thanh L, Nguyễn Thị Thanh L1, Lê Thị Ngọc C, Trần Thị L2, Nguyễn Thị Kim T, Hồ Thị H1 vay tổng cộng 13 lần, tổng số tiền gốc vay là 130.000.000 đồng, lãi suất từ 226% đến 487%/năm; tổng số tiền lãi đã thu là 35.500.000 đồng. Trong đó, lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà những người vay phải trả cho P là 2.498.630 đồng; P thu lợi bất chính số tiền là 33.001.370 đồng.

[3] Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng số 107/CT-VKSTA ngày 09 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Nguyễn Văn P là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm đến các quy định về quản lý hoạt động tín dụng của Nhà nước, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Bị cáo biết rõ hành vi cho vay với mức lãi suất vượt quá 5 lần mức lãi suất cao nhất cho phép của Bộ luật Dân sự là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam tư lợi bị cáo đã cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện có xét đến vai trò của bị cáo, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đủ để cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã khắc phục được một phần hậu quả và là lao động chính trong gia đình, ông nội bị cáo là ông Nguyễn Văn M1 là người có công được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng 2 đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn P có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình.

[8] Về hình phạt: Xét bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo để bị cáo vừa có điều kiện cải tạo thành người có ích cho xã hội và có điều kiện để chăm sóc nuôi sống gia đình nên xét thấy áp dụng hình phạt tiền thật nghiêm khắc cũng đủ răn đe giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung. Mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Xét, quá trình thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã thu tiền lãi của 06 người liên quan số tiền là 35.500.000 đồng. Trong đó, lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà những người vay phải trả cho P là 2.498.630 đồng; P thu lợi bất chính số tiền là 33.001.370 đồng. Số tiền này tại phiên Tòa bị cáo khai đã tiêu xài hết nên buộc bị cáo nộp lại để trả lại cho những người vay, bị cáo đã nộp xong.

Đối với số tiền 130.000.000 đồng Nguyễn Văn P dùng để cho vay (tiền gốc) buộc bị cáo giao nộp để sung ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax mà Nguyễn Văn P sử dụng để nhắn tin bằng ứng dụng Zalo mục đích thực hiện hành vi phạm tội cần tịch sung vào ngân sách nhà nước.

[10] Xét đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố Nguyễn Văn P phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
  3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).

  4. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
  5. Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

    Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax của bị cáo Nguyễn Văn P. Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 61/QĐ-VKSTA ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

    Buộc bị cáo nộp lại số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng).

    Buộc bị cáo nộp lại tiền thu lợi bất chính là 33.001.370 đồng (Ba mươi ba triệu không trăm lẻ một ngàn ba trăm bảy mươi đồng) để trả lại cho những người liên quan gồm: Trả cho Nguyễn Thanh L số tiền 14.219.178 đồng; Trả cho Nguyễn Thị Thanh L1 số tiền 1.115.068 đồng; Trả cho Lê Thị Ngọc C số tiền 2.363.014 đồng; Trả cho Trần Thị L2 số tiền 3.484.931 đồng; Trả cho Nguyễn Thị Kim T số tiền 9.589.041 đồng; Trả cho Hồ Thị H1 số tiền 2.230.137 đồng. Bị cáo đã nộp xong theo biên lai thu số 00001234 ngày 07/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An. Buộc bị cáo nộp tiếp 2.498.630 đồng sung vào ngân sách nhà nước.

  6. Về trách nhiệm dân sự: không.
  7. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc Nguyễn Văn P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  8. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tóa án tống đạt bản án hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
  9. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - Viện KSND tỉnh Long An;
  • - Viện KSND tp Tân An;
  • - Công an tp Tân An;
  • - Chi cục THADS tp Tân An;
  • - UBND (nơi bị cáo cư trú);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QL,NVLQ
  • - Bộ phận THA hình sự;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Ngọc Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 110/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố Nguyễn Văn Phương phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger