Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 110/2024/HSST

Ngày 14 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa

Các hội thẩm nhân dân: Ông Chu Quốc Đạt

Ông Đồng Văn Diện

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Hà Quý Đôn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên toà: Ông Lê Đình Tuấn- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 110/2024/HSST ngày 28 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2024/HSST-QĐ ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1988; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam.

Nơi cư trú: Thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 09/12. Bố đẻ: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1963 (đã chết); mẹ đẻ: Nguyễn Thị X, sinh năm 1964. Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là thứ ba. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 29/8/2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L có mặt tại phiên tòa.

-Bị hại: Bà Trần Thị L, sinh năm 1970 (đã chết)

Đại diện gia đình bị hại:

  1. Ông Trần Văn C, sinh năm 1938 (vắng mặt)
  2. Ông Bùi Văn H, sinh năm 1968 (vắng mặt)
  3. Chị Bùi Thị Phương H1, sinh năm 2002 (có mặt)
  4. Chị Bùi Thị Thu H2, sinh năm 2004 (có mặt);
  5. Anh Bùi Văn Ngọc T2, sinh năm 2013 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Cùng địa chỉ: Thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn C, ông Bùi Văn H, chị Bùi Thị Phương H1, chị Bùi Thị Thu H2, anh Bùi Ngọc T2 theo Giấy ủy quyền ngày 11/7/2024: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1996 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1986 (vắng mặt)
  2. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1964 (có mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn T, sinh năm 1988, trú tại trú tại thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Bản thân T không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định.

Khoảng 10 giờ 55 phút ngày 05/7/2024, T sau khi sử dụng bia đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B1 - 0321 tham gia giao thông trên đường liên thôn thuộc địa phận thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Khi T điều khiển xe đi đến khu vực ngã tư giao nhau giữa đường T, xã M đi thôn S, xã M với đường từ trung tâm thôn N, xã M đi nhà văn hoá thôn N, xã M thì cũng là lúc bà Trần Thị L, sinh năm 1970 ở cùng thôn điều khiển xe đạp điện (hướng trung tâm xã M đi nhà văn hoá thôn N, xã M) vào khu vực ngã tư. Khi cả hai đang di chuyển trong khu vực ngã tư, do thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên cần số và để chân trước bên trái xe mô tô do T điều khiển đã va chạm với bánh trước xe đạp điện do bà L điều khiển làm xe mô tô lao về phía trước 9,7 mét rồi đổ xuống mặt đường, xe đạp điện đổ tại chỗ, bà L và T ngã xuống đường được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện A, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Hậu quả: Bà L bị thương nặng sau đó chết cùng ngày, T bị xây xát nhẹ.

Ngay sau khi nhận được tin báo về vụ tai nạn giao thông nêu trên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã phối hợp cùng các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường (BL 40-51), khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 98B1- 0321(BL 52-53), khám nghiệm xe đạp điện màu sơn đỏ, số khung: SX2017203290575; số máy: AC48VB170238152 (BL 54-55), khám nghiệm tử thi Trần Thị L (BL 33-39) và phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành kiểm tra nồng độ cồn đối với Nguyễn Văn T và tổ chức các hoạt động điều tra theo quy định pháp luật.

Tại kết luận giám định số 1794/KL-KTHS ngày 16/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận về cơ chế hình thành dấu vết vụ tai nạn giao thông như sau:

Dấu vết gãy khuyết kim loại, trượt xước cao su, hướng từ phải sang trái, từ tâm trục ra mặt lăn ở bên phải cạnh vành và má lốp bánh trước của xe đạp điện số khung SX2017203290575 (ảnh 19, 20 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết chùn cong kim loại, trượt xước cao su, hướng từ trước ra sau ở đầu cần số tiến và

để chân trước bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98B1-0321 (ảnh 21, 22 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).

Dấu vết mài trượt kim loại, bám dính chất màu đen, hướng từ sau ra trước, từ phải sang trái ở mặt sau giảm sóc trước bên phải của xe đạp điện số khung SX2017203290575 (ảnh 12,13,14 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết trượt xước cao su, sạch bụi đất, hướng từ trước ra sau ở để chân sau bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98B1-0321 (ảnh 23 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).

Dấu vết cày xước mặt đường ký hiệu số 3 phù hợp với quá trình sau va chạm, xe đạp điện số khung SX2017203290575 đổ nghiêng phải, rê trượt trên mặt đường tạo nên. Dấu vết mài trượt bám dính vật chất màu đen đan xen dấu vết cày xước mặt đường ký hiệu số 4 phù hợp với quá trình sau va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 98B1-0321 đổ nghiêng trái, rê trượt trên mặt đường tạo nên.

Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98B1-0321 và xe đạp điện số khung SX2017203290575 trên mặt đường, tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 3 (vị trí xe đạp điện đổ trên mặt đường), trong khu vực giao nhau giữa đường dân sinh thôn N với đường liên thôn Đ đi thôn S. Tại thời điểm xảy ra va chạm hai phương tiện trong tư thế chuyển động đứng.

Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.

Tại Kết luận giám định tử thi số 1705/KLGĐTT-KTHS ngày 05/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B, kết luận: Nguyên nhân chết của bà Trần Thị L do chấn thương sọ não: Vỡ xương hộp sọ vùng chẩm. Cơ chế hình thành dấu vết: Các tổn thương sưng nề, bầm tím, rách da được hình thành do tiếp xúc với vật tày, có bề mặt không nhẫn tạo nên. Tổn thương nứt, vỡ xương hộp sọ vùng chẩm được hình thành do tác động trực tiếp với vật tày, lực tác động mạnh tạo nên, là nguyên nhân dẫn đến tử vong của Trần Thị L.

Tại phiếu kiểm tra nồng độ cồn số 863615, biên bản số 03405 hồi 15 giờ 25 phút ngày 05/7/2024 xác định nồng độ cồn trong khí thở của Nguyễn Văn T là 1,152mg/L.

Hành vi của Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô BKS 98B1- 0321 tham gia giao thông trong tình trạng có nồng độ cồn trong khí thở là 1,152mg/L, không có giấy phép lái xe theo quy định, không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức, vi phạm khoản 8, khoản 9 Điều 8; khoản 1 Điều 12; khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G, gây tai nạn dẫn đến hậu quả chết người nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Khoản 8, khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ, quy định:

“Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm:

  1. Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.
  2. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định.

Điều 12. Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe

  1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường……”

Khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ; Khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT

“Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ: Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:

  1. Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức”.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội Cáo trạng đã nêu. Cáo trạng số 112/CT-VKS ngày 25/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn T từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 29/8/2024.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý về trách nhiệm dân sự, tiền án phí hình sự và tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải, bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại diện viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, Kiểm sát viên: Trong quá trình

điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

*Về sự vắng mặt của những người được Tòa án triệu tập đến phiên tòa: Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T3 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai lưu tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T3 trong quá trình điều tra tại phiên tòa.

[2] Về căn cứ xác định hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Các lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm phương tiện, phiếu kiểm tra nồng độ cồn, kết luận giám định pháp y, kết luận định giá tài sản của các cơ quan chuyên môn cũng như các tài liệu chứng cứ khác đã được Cơ quan cảnh sát điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án, như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 10 giờ 55 phút ngày 05/7/2024, tại ngã tư giao nhau giữa đường T đi thôn S với đường từ trung tâm thôn N đi nhà văn hoá thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Văn T có hành vi điều khiển xe mô tô 98B1- 0321 thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi đi vào ngã tư giao nhau, vi phạm khoản 1 Điều 12, khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 dẫn đến cần số và để chân trước bên trái xe mô tô của T đã va chạm với bánh trước xe đạp điện do bà Trần Thị L điều khiển làm xe mô tô lao về phía trước 9,7 mét rồi đổ xuống mặt đường, xe đạp điện đổ tại chỗ, bà L và T ngã xuống đường được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện A, huyện T. Hậu quả: Bà L bị thương nặng sau đó chết cùng ngày. Khi điều xe mô tô tham gia giao thông, Thuân không có giấy phép lái xe theo quy định và trong tình trạng có sử dụng bia.

Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ tuổi, đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rằng khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông phải tuân thủ quy định của Luật giao thông đường bộ. Nhưng bị cáo cố ý không chấp hành quy định, tham gia giao thông khi không có giấy phép lái xe theo quy định, trong tình trạng có sử dụng bia. Bị cáo đã điều khiển xe lưu thông khi đi vào ngã tư giao nhau thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn là nguyên nhân gây tai nạn, hậu quả làm bà L bị chết, vi phạm khoản 1 Điều 12, khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G.

Hành vi của Nguyễn Văn T đủ yếu tố cấu thành của tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Việc bị cáo bị truy tố, xét xử với tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến trật tự an toàn khi tham gia giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến sức khỏe tính mạng của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, hậu quả của vụ án là rất nghiêm trọng. Do đó cần phải xử lý nghiêm về hình sự để giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau phạm tội bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường được số tiền 58.000.000 đồng cho đại diện gia đình bị hại để khắc phục hậu quả. Bị cáo có thời gian tham gia quân đội từ năm 2007 đến cuối năm 2008, có ông nội là liệt sỹ hy sinh trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Nguyên nhân dẫn đến tai nạn do bị hại có lỗi một phần điều khiển xe đạp điện không nhường đường cho xe đi đến từ bên phải, không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức, vi phạm khoản 1 Điều 24 Luật giao thông đường bộ; khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 gây tai nạn giao thông dẫn đến thiệt hại chính tính mạng bà L. Nên cần áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Từ những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo trong vụ án, HĐXX xét thấy: Thời gian qua, trên địa bàn huyện L đã xảy ra không ít vụ tai nạn giao thông thương tâm do người điều khiển phương tiện không có giấy phép lái xe, trong tình trạng có sử dụng rượu, bia gây ra đã để lại những hệ lụy đau lòng đã cướp đi sinh mạng của những người vô tội. Mặc dù bị cáo hiểu được khi uống bia, tác động vào thần kinh dễ khiến người điều khiển phương tiện tham gia giao thông không làm chủ được hành vi, gây ra hiểm họa khôn lường cho toàn xã hội, nhưng bị cáo vẫn cố ý điều khiển phương tiện tham gia giao thông gây tai nạn, hậu quả làm bà L bị chết. Để hạn chế các vụ tai nạn giao thông xảy ra do người điều khiển phương tiện tham gia giao thông có sử dụng rượu bia, cần thiết phải bắt bị cáo cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục chung và phòng ngừa riêng.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có giấy phép lái xe, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 260 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Do bị cáo đang bị tạm giam nên HĐXX Quyết định tạm giam bị cáo theo quy định tại Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự để đảm bảo thi hành án.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, đại diện gia đình bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền tổn thất tinh thần là 115.000.000 đồng. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường một phần cho gia đình bị hại được tổng số tiền 55.000.000 đồng. Tại phiên tòa mẹ đẻ bị cáo là bà Nguyễn Thị X đã giao nộp một biên lai tự nguyện nộp số tiền 3.000.000 đồng vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang để bồi thường tiếp cho gia đình bị hại. Tại phiên tòa đại diện gia đình bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi

thường tiếp số tiền còn lại là 60.000.000 đồng và đồng ý trừ đi số tiền 3.000.000 đồng gia đình bị cáo đã tự nguyện nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Bị cáo đồng ý bồi thường tiếp cho đại diện gia đình bị hại số tiền trên, nhưng do điều kiện khó khăn nên chưa bồi thường được. HĐXX xét thấy, việc bị cáo và đại diện gia đình bị hại tự nguyện thỏa thuận về số tiền bồi thường trách nhiệm dân sự, thỏa thuận này là tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; khoản 1 Điều 586; Điều 591; Điều 357; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 cần chấp nhận.

[6] Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 xe đạp điện màu đỏ (xe của bà L); 01 xe mô tô 98B1-0321 và đăng ký xe mô tô của anh Nguyễn Văn T3. Ngày 07/10/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại xe đạp điện cho anh S (đại diện theo uỷ quyền của gia đình bà L) và trả lại xe mô tô cùng đăng ký xe cho anh T3. HĐXX xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với anh Nguyễn Văn T3 là chủ sở hữu xe mô tô 98B1- 0321, sáng ngày 05/7/2024 T sang nhà anh T3 mượn xe nhưng anh T3 không có nhà, thấy chìa khoá ở bàn uống nước nên T tự ý lấy đi, anh T3 không biết nên không có căn cứ xử lý đối với anh T3, HĐXX xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1, khoản 3 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 2.850.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

[9] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xử lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo về tội danh, điều khoản, phân tích về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. HĐXX thấy để hạn chế các vụ tai nạn giao thông xảy ra do người điều khiển phương tiện tham gia giao thông không có giấy phép lái xe, có sử dụng rượu bia, cần áp dụng mức hình phạt cao nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý trách nhiệm dân sự, án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/8/2024.

2.Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; khoản 1 Điều 586; Điều 591; Điều 357; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường tiếp cho đại diện gia đình bị hại là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Trần Thị L gồm: Ông Trần Văn C, ông Bùi Văn H, chị Bùi Thị Phương H1, chị Bùi Thị Thu H2, anh Bùi Văn Ngọc T2 do người đại diện theo ủy quyền là anh Nguyễn Văn S nhận số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng). Nhưng được trừ vào số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) bà Nguyễn Thị X đã nộp theo biên lai thu số 0002747 ngày 14/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Bị cáo Nguyễn Văn T còn phải bồi thường tiếp số tiền còn lại là 57.000.000 đồng (Năm mươi bẩy triệu đồng).

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ số tiền phải thi hành án thì người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất 10%/năm quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1, khoản 3 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 2.850.000 đồng (Hai triệu, tám trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo, đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • -TAND, VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -VKSND, CA, Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • -Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • -Cổng TTĐT Tòa án;
  • -Bị cáo;
  • -UBND nơi bị cáo cư trú;
  • -Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Quỳnh Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HSST ngày 14/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 110/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger