|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 110 / 2024 / HS-ST
Ngày 30 tháng 9 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lư Thị Châu Ngọc.
Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Châu Hùng và ông Nguyễn Văn Bằng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trí - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
Huỳnh Văn H (C), sinh năm 1980, tại thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: mua bán; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị P; vợ Bùi Thị T1 (đã ly hôn), con có 02 người, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2006.
Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/05/2024 đến nay (có mặt).
Bị hại: Ông Lâm Sa T2, sinh năm 1976; nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người làm chứng:
- - Bùi Thị M, sinh năm 1978 (có mặt);
- - Ngô Quang C, sinh năm 1970 (vắng mặt).
- - Ngô Thanh P1, sinh năm 1969 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 02/2023, Bùi Thị M thuê nhà trọ ở tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang chung sống như vợ chồng với Lâm Sa T2, đến khoảng tháng 8/2023 do phát sinh mâu thuẫn nên không sống chung nữa. Sau đó, M chung sống như vợ chồng với Huỳnh Văn H tại nhà của H thuộc tổ A, ấp V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang.
Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 07/3/2024, Huỳnh Văn H sau khi đã uống rượu một mình tại nhà của H thuộc tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, thì đi bộ đến đường B để mua thức ăn thì H gặp Lâm Se T3 đang ngồi trên xe mô tô đậu trước cổng Trường tiểu học "” thuộc tổ D, khóm V, phường N đang chờ bà Bùi Thị M đưa con riêng của M đi học. Lúc này, H nhớ lại việc trước đó H nghe ai nói là T3 đòi san bằng nhà của H nên tức giận đi về lấy 01 cây dao dài 31 cm (cán bằng nhựa màu đen dài 11,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 19,5 cm), cất giấu vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi quay lại tìm T3 để đánh. Khi H đến chỗ T3, thì liền dùng tay phải lấy cây dao từ trong túi quần ra rồi chuyển qua cầm dao tay trái (do H thuận tay trái) nhá đòi chém T3 nên T3 xuống xe, đứng đối diện H dùng tay trái chộp lấy cổ tay trái đang cầm dao của H, tay phải câu cổ vật H xuống, nhưng H không ngã, H liền giật mạnh tay trái đang cầm dao hướng từ trên xuống làm lưỡi dao trúng vào bàn tay trái và vùng bụng phải của T3 gây thương tích. The bỏ chạy vào trong khuôn viên trường học và được người dân gần đó đưa đến Bệnh viện Đ tại thành phố C để điều trị, đến ngày 22/3/2024 xuất viện. Còn H thấy T3 bị chảy nhiều máu nên không đuổi theo mà cầm dao đi về nhà. Ngày 09/3/2024, T3 có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với H. Ngày 11/5/2024, Huỳnh Văn Hậu B khởi tố để điều tra.
Vật chứng thu giữ: 01 cây dao dài 31cm có cán dẹp bằng nhựa màu đen, dài 11,5cm, nơi rộng nhất 3,5cm, sắc bén một cạnh, mũi dao nhọn, trên lưỡi dao có khắc dòng chữ MADE IN THAILAND; quần áo của Huỳnh Văn H; 01 đĩa DCD.
Căn cứ các kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 280/24/KLTTCT-TTPY ngày 20/4/2024 của Trung tâm pháp y, Sở Y, kết luận thương tích của Lâm Sa T2, sinh năm 1976:
1. Các kết quả chính:
- - Sẹo vùng bụng phải, nằm xiên, kích thước (12 x 0.6) cm, là sẹo có kích thước lớn tỷ lệ là 0.3%. Do vật sắc nhọn gây nên.
- - Sẹo mặt lòng kẻ ngón I – II bàn tay trái dạng vát, kích thước (7.5 x 0.1) cm, là sẹo có kích thước trung bình tỷ lệ 02%. Gây:
- + Đứt hoàn toàn gân gấp ngón cái dài tay trái, đã phẫu thuật khâu nối gân. Hiện tại cứng khớp liên đốt. Tỷ lệ 0.6%.
- + Sẹo mổ mặt lưng vòng xuống mặt lòng đốt 1 ngón I bàn tay trái, kích thước (0.5 x 0.1) cm. Là sẹo có kích thước nhỏ tỷ lệ 01%.
- Tỷ lệ là 0.9%. Do vật sắc nhọn gây nên.
2. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là 12%.
Ngày 11/05/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C khởi tố vụ án, khởi tố Huỳnh Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng số 88/CT-VKSCĐ-HS ngày 09/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố Huỳnh Văn H về tội “Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- - Bị cáo Huỳnh Văn H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Bị hại T2; người làm chứng C, P1 vắng mặt nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu. Bị hại T2 đã nhận được tiền bồi thường 14.500.000 đồng, yêu cầu bị cáo H bồi thường thêm 2.000.000 đồng
- * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc phát biểu luận tội: Khẳng định Cáo trạng truy tố bị cáo Huỳnh Văn H đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, giữ nguyên Cáo trạng.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại T2 yêu cầu bị cáo H bồi thường thêm 2.000.000 đồng; bị cáo H chấp nhận, nên buộc bị cáo H bồi thường cho bị hại The số tiền 2.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng, áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015, đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là các công cụ phương tiện phạm tội, tiếp tục lưu trữ các đĩa DVD ghi lại hình ảnh phạm tội của bị cáo Huỳnh Văn H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị hại, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung:
[1] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Bị cáo Huỳnh Văn H có hành vi dùng dao bằng kim loại là hung khí nguy hiểm gây thương tích vào bàn tay trái và vụng bụng phải của T2, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể 12%. Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm sức khỏe của người khác, nên đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS có khung hình phạt từ 02 năm đến 6 năm tù.
Con người là vốn quý của xã hội, tính mạng, sức khoẻ của con người được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận và được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sức khoẻ của người khác mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho bị hại 14.500.000 đồng và tại phiên tòa chấp nhận bồi thường thêm cho bị hại số tiền 2.000.000 đồng. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự học lực thấp, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Do bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, nên quyết định cho bị cáo một hình phạt dưới mức thấp nhất trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật theo khoản 1 Điều 54 BLHS theo đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại T2 yêu cầu bị cáo H bồi thường thêm số tiền là 2.000.000 đồng, bị cáo H chấp nhận bồi thường, nên buộc bị cáo H bồi thường cho bị hại The số tiền 2.000.000 đồng.
[6] Về xử lý vật chứng:
01 cây dao dài 31cm có cán dẹp bằng nhựa màu đen, dài 11,5cm, nơi rộng nhất 3,5cm, sắc bén một cạnh, mũi dao nhọn, trên lưỡi dao có khắc dòng chữ MADE IN THAILAND; quần áo của Huỳnh Văn H đây là các công cụ và trang phục dùng vào việc phạm tội, không giá trị sử dụng, xét tịch thu tiêu hủy;
- 01 đĩa DVD có chứa nội dung ghi nhận hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh Văn Hậu C1 tiếp tục lưu giữ hồ sơ vụ án.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn H (C) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Huỳnh Văn H 01 (một) năm tù.
Thời gian chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam (ngày 22/5/2024).
Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586 và Điều 590 của Bộ Luật Dân sự năm 2015;
Buộc bị cáo Huỳnh Văn H có trách nhiệm bồi thường số tiền 2.000.000 đồng cho ông Lâm Sa T2.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chậm trả, bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền chậm trả theo mức lãi suất do Ngân hàng N quy định tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Tịch thu, tiêu hủy:
- + 01 cây dao dài 31 cm có cán dẹp bằng nhựa màu đen, dài 11,5cm, nơi rộng nhất 3,5cm gắn liền lưỡi dao thẳng bằng kim loại màu trắng, dài 19,5cm, nơi rộng nhất 3,5cm, sắc bén một cạnh, mũi dao nhọn, trên lưỡi dao có khắc dòng chữ MADE IN THAILAND;
- + 01 áo thun ngắn tay màu trắng, loại cổ tròn, bên dưới phía trước cổ áo có nhiều viết màu nâu sẫm (nghi máu) đã qua sử dụng;
- + 01 cái áo sơ mi tay dài, màu xám có sọc ca rô màu đen – trắng – xanh, bên dưới vai áo phía trước có nhiều vết màu nâu sẫm (nghi máu) đã qua sử dụng;
- + 01 cái quần jean lửng màu xanh, màu trong lưng quần có in chữ NAUTICA JEANS bên dưới túi quần jeans bên dưới phía trước có nhiều vết màu nâu sẫm (nghi máu) đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
- Tiếp tục lưu 01 đĩa DVD trong hồ sơ vụ án.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 12 ; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Huỳnh Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lư Thị Châu Ngọc |
Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích (vụ án hình sự)
- Số bản án: 110/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Vụ án Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích
