Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 109/2024/HNGĐ-ST

Ngày 29 - 9 - 2024

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Bùi Kim Dung
  2. Bà Hồ Thị Lan

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Lý – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Nam Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2024 tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 192/2024/QÐST-HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Liêu Thị H, sinh năm: 1985; nơi thường trú: Thôn L, xã T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi tạm trú: Tổ A, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
  2. Bị đơn: Anh Điệp Văn L (tên gọi khác: Điệp Văn L1), sinh năm: 1982; nơi cư trú: Thôn L, xã T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Liêu Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Điệp Văn L tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 11/6/2004 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H (nay là xã T, thành phố H), tỉnh Quảng Ninh. Trước khi kết hôn, chị và anh L chưa ai có vợ, có chồng, có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 05 tháng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, anh Lưu K chịu làm ăn, thường xuyên uống rượu, không quan tâm đến gia đình, bỏ mặc vợ con. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng anh L vẫn không có sự thay đổi. Chị sống ly thân với anh L từ năm 2018 đến nay, khi ly thân chị cùng hai con chuyển ra ngoài sinh sống, anh L vẫn sống tại nhà. Thời gian này chị một mình lo kinh tế nuôi hai con nên không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm với anh L. Đến nay, tình cảm chị dành cho anh Lưu K còn, mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, chị không còn nguyện vọng sống chung với anh L nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh L.

- Về con chung: Chị và anh Điệp Văn L có 02 con chung là Điệp Thị Minh T, sinh ngày 02/3/2005 và Điệp Minh C, sinh ngày 13/5/2011, con chung Điệp Thị Minh T đã thành niên nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung Điệp Minh C, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị và anh Điệp Văn Lưu K có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Điệp Văn L vắng mặt tại phiên tòa và cũng không có bản tự khai thể hiện quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án. Trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn anh Điệp Văn L cũng như tống đạt các văn bản của Tòa án như: thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải anh L đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

* Xác minh tại thôn L, xã T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, đại diện thôn L cho biết: chị H và anh L là công dân có địa chỉ thường trú tại thôn L, xã T, thành phố H. Chị H đang làm thủ tục ly hôn anh L tại Tòa án. Mâu thuẫn giữa chị H và anh L chủ yếu xuất phát từ kinh tế gia đình, lối sống và cách sinh hoạt. Anh Lưu K tu chí làm ăn để chăm lo cuộc sống gia đình cùng chị H. Chị H và anh L đã sống ly thân nhiều năm nay. Chị H và anh L có 02 con chung là Điệp Thị Minh T, sinh năm 2005 và Điệp Minh C, sinh năm 2011, các con chung đều ở cùng với chị H.

* Xác minh tại nơi chị H tạm trú, đại diện tổ A, khu A, phường H, thành phố H cho biết: chị H có nơi thường trú tại thôn L, xã T, thành phố H hiện đang tạm trú tại tổ A, khu A, phường H, thành phố H cùng các con.

* Tại biên bản ghi nhận nguyện vọng của con chung chưa thành niên ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, con chung Điệp Minh C, sinh ngày 13/5/2011 có nguyện vọng được ở với mẹ.

* Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Liêu Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh Điệp Văn L, về con chung: yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung Điệp Minh C, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

* Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Liêu Thị H, xử cho chị H được ly hôn với anh Điệp Văn L; giao con chung Điệp Minh C, sinh ngày 13/5/2011 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh Lưu K phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền của Tòa án: Nguyên đơn chị Liêu Thị H khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn anh Điệp Văn L có nơi cư trú tại thành phố H, tỉnh Quảng Ninh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn – anh Điệp Văn L: đối với bị đơn, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho bị đơn theo quy định tại Chương X của Bộ luật Tố tụng dân sự như thông báo về việc thụ lý vụ án; giấy triệu tập; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn – anh Điệp Văn L nhưng anh Lưu K đến Tòa án để làm việc. Việc không đến Tòa án theo thông báo thể hiện sự cố tình không chấp hành pháp luật của anh L. Do anh Điệp Văn L vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai dù đã được triệu tập hợp lệ, Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Liêu Thị H và anh Điệp Văn L tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 11/6/2004 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H (nay là xã T, thành phố H), tỉnh Quảng Ninh. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh L là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của chị H, Hội đồng xét xử thấy: mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh L xuất phát từ bất đồng quan điểm cuộc sống, anh Lưu K lo làm ăn kinh tế, bỏ mặc vợ con. Mặc dù những mâu thuẫn này vợ chồng và gia đình nội ngoại hai bên đã cố gắng hòa giải nhưng không có kết quả. Hai vợ chồng sống ly thân từ năm 2018 đến nay, khi ly thân mỗi người sống một nơi, chị H không có nguyện vọng đoàn tụ với anh L nên không tìm biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đến nay, chị H xác nhận tình cảm dành cho anh Lưu K còn, không còn nguyện vọng tiếp tục cuộc sống chung vợ chồng với anh L nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh L.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi giấy triệu tập, thông báo hòa giải cho anh L mục đích hòa giải cho vợ chồng nhưng anh L đều không đến tòa làm việc, việc không đến này của anh L thể hiện anh Lưu K có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Qua các tài liệu chứng cứ thì được biết vợ chồng chị H và anh L có mâu thuẫn.

Đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy chị H không còn nguyện vọng chung sống với anh L, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H với anh L.

[3] Về con chung: Chị Liêu Thị H và anh Điệp Văn L có 02 con chung là Điệp Thị Minh T, sinh ngày 02/3/2005 và Điệp Minh C, sinh ngày 13/5/2011. Con chung Điệp Thị Minh T đã thành niên, không bị mất năng lực hành vi dân sự, có đầy đủ khả năng lao động, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Xét yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung Điệp Minh C của chị H thì thấy: trong quá trình giải quyết vụ án, anh Lưu K có quan điểm về việc nuôi con chung nhưng quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương nơi anh L và chị H cư trú thể hiện con chung của anh L và chị H kể từ khi hai anh chị sống ly thân đều ở với mẹ, con chung Điệp Minh C có nguyện vọng ở với mẹ. Căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu về việc nuôi con chung của chị H, giao con chung Điệp Minh C cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu, anh Lưu K có quan điểm thể hiện nên Hội đồng xét xử không xét.

[4] Về tài sản chung: Chị Liêu Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[5] Về nợ chung: Chị Liêu Thị H xác định chị và anh Điệp Văn Lưu K có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Đối với ý kiến của kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[7] Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Liêu Thị H được ly hôn với anh Điệp Văn L.
  2. Về con chung: giao con chung Điệp Minh C, sinh ngày 13/5/2011 cho chị Liêu Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Điệp Văn Lưu K phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, anh Điệp Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu anh Điệp Văn L lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Liêu Thị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Hoặc nhận thấy chị Liêu Thị H không đủ điều kiện bảo đảm quyền lợi ích của con thì anh Điệp Văn L có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí: Chị Liêu Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0000969 ngày 26/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Chị H đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Liêu Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn anh Điệp Văn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Hạ Long;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Ủy ban nhân dân xã Thống Nhất, thành phố Hạ Long;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2024/HNGĐ-ST ngày 29/09/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 109/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger