Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUY HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/HS-ST

Ngày: 27-9-2024

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Khắc Hiếu và bà Đào Thị Ngâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Đức Vũ Tài – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Duyên – Kiểm sát viên.

Vào ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 119/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Như T; Tên gọi khác: không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1999 tỉnh Khánh Hòa. Nơi ĐKTT: thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Nơi ở: 23/1 N, khu phố E, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: nhân viên giao hàng; Trình độ học vấn: 4/12. Họ tên cha: Nguyễn Như C (chết). Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1977. Có 03 em. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2024/HS-ST ngày 13/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã tuyên phạt Nguyễn Như T 01 năm tù về tội “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” quy định tại khoản 1 Điều 125 Bộ luật Hình sự. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2024 đến ngày 27/9/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. Có mặt tại phiên tòa

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Ông Phan Ngọc A, tên gọi khác: P, sinh năm 1970; Địa chỉ: 2 N, Khu phố E, Phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.

2/ Bà Phan Thị Ngọc K, sinh năm 1994; Địa chỉ: 2 N, Khu phố E, Phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 08/01/2024, Nguyễn Như T liên hệ với người có tài khoản Telegram tên "A Đ" (không rõ lai lịch, địa chỉ) hỏi mua 97 viên ma tuý thuốc lắc và nửa lạng ma tuý khay với giá 36.000.000 đồng, mục đích để T sử dụng. Sau khi thỏa thuận, ngày 09/01/2024 T thanh toán trước cho "A Đồ" 10.000.000 đồng bằng hình thức nộp tiền vào tài khoản theo số tài khoản do "A Đồ" cung cấp tại trụ ATM Ngân hàng M trên đường H, thành phố T, số tiền còn lại thống nhất sau khi nhận ma túy, sử dụng tốt thì T sẽ chuyển trả sau. T cung cấp địa chỉ nhận ma túy và số điện thoại liên lạc là 0879.661.xxx để "A Đồ" gửi ma túy cho T.

Khoảng 11 giờ ngày 11/01/2024, T nhận được 01 đơn hàng 0 đồng là hộp giấy màu hồng có chữ “The Collagen” từ 01 nhân viên giao hàng (không xác định), T biết là ma túy do “A Đ” gửi. Sau khi nhận hàng, T kiểm tra thấy bên trong có 01 bì nilon chứa 97 viên ma tuý thuốc lắc và 01 bì nilon đựng ma tuý khay. T lấy 04 viên ma tuý thuốc lắc màu xanh, 03 viên ma tuý thuốc lắc màu tím và một phần ma tuý khay bỏ vào trong 01 bì nilon rồi bỏ trong vỏ bao thuốc lá hiệu Cotab và cất giấu trong túi quần bên phải mục đích đem đến khách sạn S thuê phòng một mình sử dụng. Số ma túy còn lại T đem cất giấu tại góc tường tại khu vực đậu xe ô tô thuộc Trung tâm S1 ở địa chỉ B N, phường B, thành phố T để sử dụng dần. Sau đó, T rủ bạn Phan Thị Ngọc K cùng đi ăn. Đến khoảng 17 giờ 45 phút cùng ngày, T nhờ K chở đến khách sạn S, K điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Madaza, biển số 78A-096.379 (xe do ông Phan Ngọc A – cha ruột của K đứng tên chủ sở hữu) chở T đến khách sạn S tại số E đường Đ, phường G, thành phố T rồi về, T đi vào trong sảnh tầng trệt để thuê phòng nhưng chưa kịp thuê thì bị Cơ quan công an phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ trên người T 01 bì nilon có chứa tinh thể màu trắng, 04 viên nén màu xanh, 03 viên nén màu tím. Thu giữ tại khu vực đậu xe ô tô thuộc Trung tâm S1 ở địa chỉ B N, phường B, thành phố T thu giữ 01 bì nilon trong suốt vuốt kín, kích thước (08x13,5)cm, chứa 44 viên nén màu xanh, 46 viên nén màu tím; 01 bì nilon trong suốt vuốt kín, kích thước (08x13,5)cm, chứa tinh thể màu trắng.

Khám xét thu giữ tại nhà của T đang ở tại số B N, Phường B, thành phố T, thu giữ 01 bì nilon trong suốt vuốt kín, chứa 02 mảnh viên nén và chất bột màu xám, T khai là ma túy dạng thuốc lắc mua của một người nam không rõ lai lịch vào khoảng tháng 9/2023 tại quán Bar S2, Phường I, thành phố T mục đích sử dụng.

Tại Kết luận giám định số 23 ngày 19/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh P, Kết luận giám định số 465 ngày 07/3/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng và Công văn số 59 ngày 25/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh P đã kết luận: Số ma túy thu giữ tại khách sạn S số 51 đường Đ, phường G, thành phố T là 15,698 gam ma túy loại Ketamine, 0,441 gam ma túy loại MDMA, 0,012 gam ma túy loại Methamphetamine. Thu giữ tại khu vực nhà để xe ô tô tại Trung tâm sinh hoạt giải trí cộng đồng Giáo xứ S1 và nơi ở tại Phường B thu giữ của Trường C2 gam ma túy loại Ketamine, 6,054 gam ma túy loại MDMA và 0,185 gam ma túy loại Methamphetamine. Tổng số lượng ma túy T tàng trữ là 50,36 gam ma túy loại Ketamine, 6,495 gam ma túy loại MDMA và 0,197 gam ma túy loại Methamphetamine.

Tại Bản cáo trạng số 113/CT-VKSTH ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Như T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố, khẳng định không bị oan và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo khẳng định số ma túy mà Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T thu giữ (tại khách sạn S số E đường Đ, phường G, thành phố T, tại khu vực nhà để xe ô tô tại Trung tâm sinh hoạt giải trí cộng đồng Giáo xứ S1 và và nơi ở tại số B N, Khu phố E, phường B, thành phố T) là ma túy của bị cáo, bị cáo cất giấu, tàng trữ số ma túy này để sử dụng dần. Bị cáo thống nhất với: Kết luận giám định số 23 ngày 19/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh P, Kết luận giám định số 465 ngày 07/3/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng và Công văn số 59 ngày 25/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh P.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa luận tội giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Như T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

  1. Về hình phạt: Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Phạt: Bị cáo Nguyễn Như T từ 07 năm đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 11/01/2024. Áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt 01 năm tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2024/HS-ST ngày 13/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 08 năm đến 09 năm tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 11/01/2024 nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam trước từ ngày 27/10/2023 đến ngày 25/12/2023.
  2. Về về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

*Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 (một) bao bì giấy dán kín, mặt trước ghi: "Công an tỉnh P. Phòng K2. Hoàn trả Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P A₁=15,268(g), A5=32,599(g) loại Ketamine, A3=0,208(g) loại MDMA, theo Kết luận giám định số:23/KL-KTHS, ngày 19/01/2024, mặt sau có chữ ký của Phạm Thị Phương X, Phan Đức K1 và 04 dấu tròn của Phòng K2 Công an tỉnh P;
  • - Bao, bì hoàn trả sau giám định;
  • 01 (một) bao bì giấy dán kín, mặt trước ghi: "Bộ C3. V số 465/KL-KTHS, kính gửi: Cơ quan CSĐT Công an T, tỉnh Phú Yên (mẫu vật hoàn trả)". Mặt sau có chữ ký của Nguyễn Hữu H, Trần Thị D1 và 02 dấu tròn của Phân Viện Khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng. Bên trong đựng các viên nén màu xanh ký hiệu A2=1,33 gam, các viên nén màu tím ký hiệu A2=1,13 gam, các viên nén màu xanh ký hiệu A4=16,65 gam, các viên nén màu tím ký hiệu A4=19,66 gam và vỏ bao gói hoàn trả sau giám định;
  • 01 (một) gói thuốc lá COTAB và 07 điếu thuốc lá COTAB được cho bì nilon trong suốt được dán giấy có chữ ký niêm phong ghi tên Huỳnh Hữu T1, Nguyễn Như T, Lê Văn Đ1, Bùi Long L, Phạm Đình C1 và đóng dấu tròn của Công an phường G, TP T, Phú Yên;
  • 01 (một) bì nilon màu xanh có 02 quai, 01 bì nilon màu đỏ có 02 quai; 01 hộp giấy màu hồng kích thước (18 x 7,5 x 10,5)cm, trên hộp có ghi chữ “The Collagen”, chữ số màu xanh “1731896068338” và dán tờ giấy trắng có nội dung “C thanh / 087****650, 09 Đường N, P.2, TP ., T. P, Mỹ phẩm, T2 thu hộ: 0 đ”. Tất cả được dán giấy niêm phong có chữ ký niêm phong ghi tên Huỳnh Hữu T1, Nguyễn Như T, Lê Văn Ú, Phạm Trung T3, Phạm Thị Diệu A1, Nguyễn Văn P1 và đóng dấu tròn của Công an P2, TP T, Phú Yên.

*Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màu xám, mặt lưng có chữ R đã cũ, được cho vào một bao bì giấy Công an TP Tuy Hòa màu trắng dán kín, có chữ ký niêm phong của Nguyễn Như T, ĐTV Trương Quốc D2, Nguyễn Toàn T4 và đóng dấu tròn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T;

- Bao, bì hoàn trả sau giám định;

- 01 (một) bao bì giấy dán kín, mặt trước ghi: "Bộ C3. V số 465/KL-KTHS, kính gửi: Cơ quan CSĐT Công an T, tỉnh Phú Yên (mẫu vật hoàn trả)". Mặt sau có chữ ký của Nguyễn Hữu H, Trần Thị D1 và 02 dấu tròn của Phân Viện Khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng. Bên trong đựng các viên nén màu xanh ký hiệu A2=1,33 gam, các viên nén màu tím ký hiệu A2=1,13 gam, các viên nén màu xanh ký hiệu A4=16,65 gam, các viên nén màu tím ký hiệu A4=19,66 gam và vỏ bao gói hoàn trả sau giám định;

- 01 (một) gói thuốc lá COTAB và 07 điếu thuốc lá COTAB được cho bì nilon trong suốt được dán giấy có chữ ký niêm phong ghi tên Huỳnh Hữu T1, Nguyễn Như T, Lê Văn Đ1, Bùi Long L, Phạm Đình C1 và đóng dấu tròn của Công an phường G, TP T, Phú Yên;

- 01 (một) bì nilon màu xanh có 02 quai, 01 bì nilon màu đỏ có 02 quai; 01 hộp giấy màu hồng kích thước (18 x 7,5 x 10,5)cm, trên hộp có ghi chữ “The Collagen”, chữ số màu xanh “1731896068338” và dán tờ giấy trắng có nội dung “C thanh / 087****650, 09 Đường N, P.2, TP ., T. P, Mỹ phẩm, T2 thu hộ: 0 đ”. Tất cả được dán giấy niêm phong có chữ ký niêm phong ghi tên Huỳnh Hữu T1, Nguyễn Như T, Lê Văn Ú, Phạm Trung T3, Phạm Thị Diệu A1, Nguyễn Văn P1 và đóng dấu tròn của Công an P2, TP T, Phú Yên.

* Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màu xám, mặt lưng có chữ R đã cũ, được cho vào một bao bì giấy Công an TP Tuy Hòa màu trắng dán kín, có chữ ký niêm phong của Nguyễn Như T, ĐTV Trương Quốc D2, Nguyễn Toàn T4 và đóng dấu tròn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T;

(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa)

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu theo pháp luật.

- Bị cáo thống nhất với bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, không tranh luận. Nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị K vắng mặt tuy nhiên chị K đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng tại cơ quan điều tra. Xét việc vắng mặt của chị K không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật của vụ án và không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, chấp nhận ý kiến của bị cáo, Kiểm sát viên, căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám xét, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 11/01/2024, tại khách sạn S số E đường Đ, phường G, thành phố T, Nguyễn Như T đã có hành vi tàng trữ trái phép 15,698 gam ma túy loại Ketamine, 0,441 gam ma túy loại MDMA, 0,012 gam ma túy loại Methamphetamine thì bị bắt quả tang. Thu giữ tại khu vực nhà để xe ô tô tại Trung tâm sinh hoạt giải trí cộng đồng Giáo xứ S1 và nơi ở tại Phường B thu giữ của Trường C2 gam ma túy loại Ketamine, 6,054 gam ma túy loại MDMA và 0,185 gam ma túy loại Methamphetamine. Tổng số lượng ma túy T tàng trữ là 50,36 gam ma túy loại Ketamine, 6,495 gam ma túy loại MDMA và 0,197 gam ma túy loại Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng. Bị cáo Nguyễn Như T có hành vi cất giấu, tàng trữ các chất ma túy là: (1) Ketamin (Ketamin là chất ma túy được quy định tại danh mục III ban hành kèm theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất ma túy) có khối lượng 50,36 gam là đã phạm vào điểm 1 khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; (2) MDMA có khối lượng 6,054 gam và Methamphetamine có khối lượng 0,185 gam; có tổng khối lượng 6,692 gam (theo hướng dẫn tại Mục 1 phụ lục của Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015) là đã phạm vào điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số 113/CT-VKSTH ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Nguyễn Như T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

[4] Về khung hình phạt: Điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù. Điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này;

[5] Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước; là tiền đề, hệ quả tất yếu của việc mua, bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, gây ra những tác hại nghiêm trọng cho sức khỏe, kinh tế và nhân cách con người; là nguyên nhân, mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội khác nên đối với loại tội phạm này cần được phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm.

[6] Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Bị cáo Nguyễn Như T có nhân thân xấu (Tại bản án số 49/2024/HS-ST ngày 13/8/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên phạt 01 năm tù về tội “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”); quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hìn sự.

[7] Về tổng hợp hình phạt: Tại bản án số 49/2024/HS-ST ngày 13/8/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên phạt 01 năm tù về tội “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” đã có hiệu lực pháp luật. Do đó áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Như T.

[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc xử lý vật chứng như đề xuất hướng giải quyết của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ cần chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy

  1. Về hình phạt: Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Phạt: Bị cáo Nguyễn Như T 08 (T5) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 11/01/2024. Áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt 01 năm tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2024/HS-ST ngày 13/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên. Buộc bị cáo Nguyễn Như T phải chấp hành hình phạt chung là 09 (Chín) năm tù, tính từ ngày bắt tạm giam ngày 11/01/2024 nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam trước từ ngày 27/10/2023 đến ngày 25/12/2023.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    *Tịch thu tiêu hủy:

    • 01 (một) bao bì giấy dán kín, mặt trước ghi: "Công an tỉnh P. Phòng K2. Hoàn trả Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P A1=15,268(g), A5=32,599(g) loại Ketamine, A3=0,208(g) loại MDMA, theo Kết luận giám định số:23/KL-KTHS, ngày 19/01/2024", mặt sau có chữ ký của Phạm Thị Phương X, Phan Đức K1 và 04 dấu tròn của Phòng K2 Công an tỉnh P;
    • Bao, bì hoàn trả sau giám định;
    • 01 (một) bao bì giấy dán kín, mặt trước ghi: "Bộ C3. V số 465/KL-KTHS, kính gửi: Cơ quan CSĐT Công an T, tỉnh Phú Yên (mẫu vật hoàn trả)". Mặt sau có chữ ký của Nguyễn Hữu H, Trần Thị D1 và 02 dấu tròn của Phân Viện Khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng. Bên trong đựng các viên nén màu xanh ký hiệu A2=1,33 gam, các viên nén màu tím ký hiệu A2=1,13 gam, các viên nén màu xanh ký hiệu A4=16,65 gam, các viên nén màu tím ký hiệu A4=19,66 gam và vỏ bao gói hoàn trả sau giám định;
    • 01 (một) gói thuốc lá COTAB và 07 điếu thuốc lá COTAB được cho bì nilon trong suốt được dán giấy có chữ ký niêm phong ghi tên Huỳnh Hữu T1, Nguyễn Như T, Lê Văn Đ1, Bùi Long L, Phạm Đình C1 và đóng dấu tròn của Công an phường G, TP T, Phú Yên;
    • 01 (một) bì nilon màu xanh có 02 quai, 01 bì nilon màu đỏ có 02 quai; 01 hộp giấy màu hồng kích thước (18 x 7,5 x 10,5)cm, trên hộp có ghi chữ “The Collagen”, chữ số màu xanh “1731896068338” và dán tờ giấy trắng có nội dung “C thanh / 087****650, 09 Đường N, P.2, TP ., T. P, Mỹ phẩm, T2 thu hộ: 0 đ”. Tất cả được dán giấy niêm phong có chữ ký niêm phong ghi tên Huỳnh Hữu T1, Nguyễn Như T, Lê Văn Ú, Phạm Trung T3, Phạm Thị Diệu A1, Nguyễn Văn P1 và đóng dấu tròn của Công an P2, TP T, Phú Yên.

    * Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màu xám, mặt lưng có chữ R đã cũ, được cho vào một bao bì giấy Công an TP Tuy Hòa màu trắng dán kín, có chữ ký niêm phong của Nguyễn Như T, ĐTV Trương Quốc D2, Nguyễn Toàn T4 và đóng dấu tròn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T;

    (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa)

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Như T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND thành phố Tuy Hòa;
  • - Công an thành phố Tuy Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Minh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 110/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Như Trường phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger