Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỒNG DÂN

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 24/9/2024.

“V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Bé Nhi

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Tuyết Trinh

Ông Danh On

Thư ký phiên tòa: Bà Thái Kim Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa: Ông Danh Đạt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 188/2024/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 7 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2024/QĐXXST–HNGĐ, ngày 15 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lê Hồng Th, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp NH, xã NQA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu, (vắng mặt – có đơn xin vắng).
  2. Bị đơn: Anh La Trí L, sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấp NH, xã NQA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu, (vắng mặt – không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Hồng Th trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2008, chị Th và anh L có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ninh Quới A, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 15/07/2008. Thời gian đầu, vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng anh chị thường xuyên cự cải, anh L thường hay đánh đập chị Th. Đến tháng 6 năm 2024, chị Th và anh L đã ly thân với nhau cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Th yêu cầu được ly hôn với anh La Chí Lăng.

Về quan hệ con chung: Chị Th xác định trong quá trình chung sống, giữa chị và anh L có 03 người con chung là cháu La Ngọc D, sinh ngày 14/02/2009, cháu La Thị Cát T, sinh ngày 15/11/2015 và cháu La Thiên K, sinh ngày 20/3/2021. Hiện nay các cháu D, Tường, Kim đang sống cùng chị Th nên chị Th yêu cầu nuôi con nhưng không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị Th không yêu cầu gì khác.

Đối với bị đơn anh La Chí Lkhông có lời khai, anh L đã được Tòa án giao nhận các văn bản tố tụng nhưng anh L vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

  • Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật.
  • Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình; Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
  • Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Hồng Th được ly hôn với anh La Chí Lăng.
  2. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu La Ngọc D, sinh ngày 14/02/2009, cháu La Thị Cát T, sinh ngày 15/11/2015 và cháu La Thiên K, sinh ngày 20/3/2021 cho chị Lê Hồng Th trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh La Chí Lkhông phải cấp dưỡng nuôi con nhưng anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  3. Về quan hệ tài sản: Chị Th không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về quan hệ pháp luật: Chị Lê Hồng Th khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh La Chí Lvà yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” là đúng quy định.
  2. [2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh La Chí Lcó nơi đăng ký thường trú tại ấp NH, xã NQA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
  3. [3] Nguyên đơn chị Lê Hông Thắm tuy rằng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với chị Th. Bị đơn anh La Chí Lvắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh La Chí Lăng.
  4. [4] Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2008, chị Th và anh L có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ninh Quới A, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 15/07/2008 nên quan hệ hôn nhân giữa chị Th và anh L là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống đến nay, chị Th xác định chị và anh L có phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cự cải, anh L thường hay đánh đập chị Th. Đến tháng 6 năm 2024, chị Th và anh L đã ly thân với nhau cho đến nay. Nay chị Th nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Th yêu cầu được ly hôn với anh La Chí Lăng. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành xác minh được biết giữa chị Th và anh L có phát sinh mâu thuẩn, vợ chồng lúc sống chung thường xuyên cự cải và hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Lê Hồng Th được ly hôn với anh La Chí Lăng.
  5. [5] Về quan hệ con chung: Chị Th xác định trong quá trình chung sống, giữa chị và anh L có 03 người con chung là cháu La Ngọc D, sinh ngày 14/02/2009, cháu La Thị Cát T, sinh ngày 15/11/2015 và cháu La Thiên K, sinh ngày 20/3/2021. Hiện nay các cháu D, Tường, Kim đang sống cùng chị Th nên chị Th yêu cầu nuôi con nhưng không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, các cháu D, Tường, Kim đang sống cùng chị Th và các cháu đã có cuộc sống, môi trường ăn, ở, học ổn định. Đồng thời, cháu D và cháu T có nguyện vọng theo sống cùng chị Th. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu La Ngọc D, sinh ngày 14/02/2009, cháu La Thị Cát T, sinh ngày 15/11/2015 và cháu La Thiên K, sinh ngày 20/3/2021 cho chị Lê Hồng Th trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh La Chí Lkhông phải cấp dưỡng nuôi con nhưng anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  6. [6] Về quan hệ tài sản: Chị Lê Hồng Th không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  7. [7] Về án phí: Buộc chị Lê Hồng Th phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Hồng Th.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Hồng Th được ly hôn với anh La chí Lăng.
  2. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu La Ngọc D, sinh ngày 14/02/2009, cháu La Thị Cát T, sinh ngày 15/11/2015 và cháu La Thiên K, sinh ngày 20/3/2021 cho chị Lê Hồng Th trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh La Chí Lkhông phải cấp dưỡng nuôi con nhưng anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  3. Về quan hệ tài sản: Chị Lê Hồng Th không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Hồng Th phải nộp số tiền là 300.000 đồng nhưng chị Th đã dự nộp số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007775 ngày 08/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay chuyển thu toàn bộ số tiền trên thành án phí.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND huyện Hồng Dân;
  • - Chi cục THADS huyện Hồng Dân;
  • - UBND xã Ninh Quới A;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lâm Bé Nhi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HNGĐ - ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 110/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Th yêu cầu được ly hôn với anh L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger