Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Q. LIÊN CHIỂU, TP. ĐÀ NẴNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/DS-ST

Ngày: 18-9-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Ngô Văn Sỹ
  2. Bà Trương Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Võ Quang Tiến - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2024/TLST-DS ngày 21/6/2024 về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2024/QĐXX-ST ngày 14 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 117/2024/QÐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Đình H, sinh năm 1983. Địa chỉ: K đường T, tổ D, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
  2. Bị đơn: Ông Phan Huy N, sinh năm 1984. Địa chỉ: K T, tổ B, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/6/2024, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Lê Đình H trình bày:

Ngày 26/3/2024, ông và ông Phan Huy N thỏa thuận với nhau về việc ông N chuyển nhượng cho ông thửa đất số 15, tờ bản đồ số 85, thuộc phường H, quận L do ông N là chủ sở hữu với giá 1.620.000.000 đồng. Cùng ngày ông đã đặt cọc cho ông N số tiền 80.000.000 đồng và lập giấy nhận đặt cọc có chữ ký của các bên. Theo đó, các bên thỏa thuận hẹn đến ngày 15/4/2024 tiến hành công chứng để chuyển nhượng thửa đất nói trên. Tuy nhiên sau đó ông N nói với ông là không thể tiếp tục chuyển nhượng thửa đất trên được vì ông N đã nhận cọc của người khác và người này đang khởi kiện ông đến Tòa án. Vì vậy hai bên thỏa thuận là không tiếp tục tục chuyển nhượng thửa đất nói trên nữa và ông N có trách nhiệm hoàn trả tiền đã đặt cọc cho ông vào ngày 15/4/2024. Tuy nhiên, ông N hứa hẹn nhiều lần nhưng vẫn không chịu trả lại tiền cọc cho ông. Lần cuối cùng, vào ngày 12/5/2024, ông N viết Giấy cam kết với nội dung sẽ trả lại số tiền cọc 80.000.000 đồng cho ông vào ngày 12/6/2024. Tuy nhiên, hết thời hạn cam kết và cho đến nay thì ông N vẫn chưa trả lại số tiền đặt cọc nói trên cho ông mà cố tình trốn tránh.

Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông N phải trả lại số tiền đặt cọc 80.000.000 đồng cho ông.

Ông xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu phạt cọc số tiền 80.000.000 đồng.

Bị đơn ông Phan Huy N đã được Toà án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến gì trình bày gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi Toà án.

Tài liệu, chứng cứ của vụ án: Đơn khởi kiện; Giấy nhận đặt cọc; Giấy cam kết; bản sao CCCD, sổ hộ khẩu của nguyên đơn; bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và CCCD của bị đơn.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các quy định của Bộ luật Dân sự để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Phan Huy N phải có trách nhiệm trả cho ông Lê Đình H số tiền đã đặt cọc 80.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về tranh chấp hợp đồng đặt cọc, bị đơn có địa chỉ nơi cư trú tại quận L. Do vậy, đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án:

[3] Vào ngày 26/3/2024, ông Lê Đình H và ông Phan Huy N thỏa thuận với nhau về việc ông Phan Huy N đồng ý chuyển nhượng cho ông Lê Đình H thửa đất số 15, tờ bản đồ số 85, thuộc phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng với giá 1.620.000.000 đồng. Các bên lập giấy nhận đặt cọc ngày 26/3/2024 thể hiện ông H đặt cọc cho ông N số tiền 80.000.000 đồng và hẹn đến ngày 15/4/2024 sẽ tiến hành ký hợp đồng chuyển nhượng tại phòng công chứng, ông H sẽ thanh toán toàn bộ số tiền còn lại cho ông N. Quá trình thực hiện hợp đồng đặt cọc thì xảy ra sự việc dẫn đến không thể tiếp tục chuyển nhượng nên các bên đã thỏa thuận với nhau không tiếp tục việc chuyển nhượng thửa đất nói trên nữa và ông N có trách nhiệm trả lại số tiền đặt cọc 80.000.000 đồng cho ông H. Ngày 12/5/2024, ông N viết Giấy cam kết với nội dung sẽ trả lại số tiền cọc 80.000.000 đồng cho ông H vào ngày 12/6/2024. Tuy nhiên, hết thời hạn cam kết và cho đến nay thì ông N vẫn chưa trả lại số tiền đặt cọc nói trên cho ông H.

[4] Xét thấy, việc đặt cọc để đảm bảo giao kết hợp đồng giữa các bên là tự nguyện; việc thỏa thuận không tiếp tục chuyển nhượng, trả lại tiền đặt cọc của các bên cũng trên cơ sở tự nguyện, không trái quy định của luật nên các thỏa thuận này có hiệu lực thực hiện đối với các bên. Theo thoả thuận thì ông N hẹn đến ngày 12/6/2024 sẽ trả lại số tiền đặt cọc 80.000.000 đồng cho ông H. Tuy nhiên, hết thời hạn nói trên và cho đến nay ông N vẫn chưa trả tiền đặt cọc lại cho ông H là đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền. Do đó, căn cứ Điều 280, 328 của Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử buộc ông N phải có tránh nhiệm trả cho ông H số tiền đặt cọc là 80.000.000 đồng.

[5] Tại phiên tòa, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu phạt cọc số tiền 80.000.000 đồng. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện nên căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phạt cọc đã rút.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông N phải chịu theo qui định của pháp luật là: 80.000.000 đồng x 5% = 4.000.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 244, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 280, 328, 357, 468 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Đình H đối với ông Phan Huy N về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.

Tuyên xử:

  1. Buộc ông Phan Huy N có nghĩa vụ trả cho ông Lê Đình H số tiền đặt cọc 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  2. Đình chỉ xét xử sơ thẩm đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Đình H về yêu cầu phạt cọc số tiền 80.000.000 đồng.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phan Huy N phải chịu 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).

    Hoàn trả cho ông Lê Đình H 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) tiền tạm ứng án phí ông Lê Đình H đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000751 ngày 21/6/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

  4. Án xử công khai sơ thẩm, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND quận Liên Chiểu;
  • - Chi Cục THADS quận Liên Chiểu;
  • - Lưu hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phạm Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/DS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 110/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Đình H đối với ông Phan Huy Ng về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger