|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 110/2024/DS-ST Ngày: 17 – 9 – 2024 V/v tranh chấp nợ hụi |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Xuân Nữ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngô Văn Khon;
- Ông Phạm Văn Liệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Thanh Phong – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chí Phương - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 14/8/2024 và 17/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 118/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp nợ hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 112/2024/QĐST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số: 347/TB-TA ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Kim X, sinh năm 1966. Địa chỉ: Tổ A, Khu phố C, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Trương Thị Thúy M, sinh năm 1980.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Người làm chứng:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Đặng Chí H, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 11/3/2024).
Lê Phước H1, sinh năm 1983.
Cùng địa chỉ: Số F, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
3.1. Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1972. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
3.2. Nguyễn Thị T, sinh năm 1974. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
4.1. Phạm Văn Q, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
4.2. Nguyễn Thị Tường V, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn có người đại diện hợp pháp là anh Đặng Chí H trình bày:
Bà Nguyễn Thị Kim X có tham gia 01 dây hụi và do vợ chồng bà Trương Thị Thúy M, ông Lê Phước H1 làm chủ như sau: Bà X tham gia 01 phần hụi 5.000.000 đồng/tháng, mở ngày 25/01/2015 âm lịch, có 26 hụi viên, mỗi tháng khui 01 lần. Bà X là người hốt hụi cuối ngày 25/02/2017 âm lịch với số tiền là 122.500.000 đồng (tiền hốt hụi 125.000.000 đồng trừ đầu thảo 2.500.000 đồng, còn lại 122.500.000 đồng) nhưng bà M, ông H1 chưa giao tiền hốt hụi cho bà X.
Sau đó, hụi viên cùng tham gia với bà X là bà Nguyễn Thị Đ và bà Nguyễn Thị T có giao tiền đóng hụi cho bà X là 19.000.000 đồng của bà T và 10.000.000 đồng của bà Đ thay vì đóng tiền hụi cho bà M, ông H1 do thời gian chưa mãng hụi mà bà M, ông H1 bị vỡ hụi. Nay bà X thống nhất cấn trừ 29.000.000 đồng tiền đóng hụi của bà T, bà Đ nợ đối với bà M, ông H1 nêu trên vào tiền nợ hốt hụi 122.500.000 đồng, nên bà M, ông H1 còn nợ bà X số tiền 93.500.000 đồng.
Theo đơn khởi kiện, bà X yêu cầu bà M và ông H1 có trách nhiệm liên đới trả cho bà X tiền nợ hụi 122.500.000 đồng. Tại phiên hòa giải và tại phiên tòa, bà X yêu cầu bà M và ông H1 có trách nhiệm liên đới trả cho bà X tiền nợ hụi 93.500.000 đồng.
- Tại phiên hòa giải ngày 11/7/2024, bị đơn Trương Thị Thúy M trình bày:
Vào ngày 25/01/2015 âm lịch, bà Nguyễn Thị Kim X có tham gia 01 phần hụi của 01 dây hụi do bà Trương Thị Thúy M làm chủ, cụ thể: Hụi 5.000.000 đồng/tháng, mở ngày 25/01/2015 âm lịch, có 26 hụi viên, mỗi tháng khui 01 lần, bà X hốt hụi cuối ngày 25/02/2017 âm lịch số tiền 93.500.000 đồng được tính như sau: Tiền hốt hụi 125.000.000 đồng trừ đầu thảo 2.500.000 đồng, trừ tiếp 29.000.000 đồng tiền nợ hụi của 02 người em bà X nợ đối với bà M là bà Nguyễn Thị Đ 19.000.000 đồng và bà Nguyễn Thị T 10.000.000 đồng, còn lại 93.500.000 đồng.
Đối với ông Lê Phước H1 là chồng của bà M nhưng không có đăng ký kết hôn. Việc mở hụi là cá nhân bà M với mục đích tạo thu nhập sinh sống cho gia đình và kinh doanh mua bán. Bà M và ông H1 chưa yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Hiện nay, ông H1 và bà M đang sinh sống tại nhà trọ thuê của cha ông H1 tại địa chỉ Ấ, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Vì vậy, đối với dây hụi này chỉ có bà M nợ tiền bà X, không có liên quan đến ông H1.
Nay bà M chỉ đồng ý trả cho bà X tiền nợ hụi 93.500.000 đồng với điều kiện mỗi tháng trả số tiền 500.000 đồng khi thi hành án.
- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 28/5/2024, Bản tự khai của bà Đ ngày 11/9/2024 và B tự khai của bà T ngày 05/9/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Thị T trình bày:
Thống nhất với trình bày về việc cấn trừ nợ hụi của bà Đ là 19.000.000 đồng, bà T là 10.000.000 đồng vào tiền hốt hụi của bà X như sau: Bà Đ tham gia 01 phần hụi và bà T tham gia 01 phần hụi của 01 dây hụi 5.000.000 đồng/tháng, mở ngày 25/01/2015 âm lịch, có 26 hụi viên, mỗi tháng khui 01 lần, do vợ chồng bà M, ông H1 làm chủ hụi. Bà X cũng có tham gia 01 phần hụi trong dây hụi này. Bà Đ, bà T đã hốt hụi và còn nợ tiền đóng hụi của bà M, ông H1 là 29.000.000 đồng, trong đó bà Đ là 19.000.000 đồng, bà T là 10.000.000 đồng. Bà X hốt hụi cuối và bà M, ông H1 bị vỡ hụi trong thời gian chưa mãng hụi nên bà Đ và bà T đã đóng số tiền nợ hụi này cho bà X.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật như vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà M, ông H1 có trách nhiệm trả cho bà X tiền nợ hụi là 93.500.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về dân sự nợ hụi theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn bà Trương Thị Thúy M, ông Lê Phước H1 có địa chỉ tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Các đương sự được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, anh Đặng Chí H có mặt; bà M và ông Lê Phước H1 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu của bà X về việc yêu cầu bà M, ông H1 có trách nhiệm trả tiền nợ hụi là 93.500.000 đồng, rút một phần yêu cầu về tiền nợ hụi 29.000.000 đồng. Xét thấy:
Căn cứ Sổ hụi do nguyên đơn cung cấp, tại trang 1 ghi nội dung hụi 5.000.000 đồng, 01 tháng khui một lần, khui ngày 25/01/2015 âm lịch, có 26 hụi viên, chủ hụi là “Muội” và trang 2 ghi danh sách hụi viên, bà X tham gia 01 phần với tên “Chị 3 Xuân” tại thứ tự hàng số 23. Tại phiên hòa giải ngày 11/7/2024, bà Trương Thị Thúy M thống nhất bà Nguyễn Thị Kim X có tham gia 01 phần hụi của dây hụi 5.000.000 đồng với nội dung nêu trên, đồng thời thống nhất số tiền hốt hụi của bà X mà bà M còn nợ là 93.500.000 đồng trong đó đã có cấn trừ tiền nợ đóng hụi cho bà M của bà Nguyễn Thị Đ là 19.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị T là 10.000.000 đồng. Mặt khác, việc cấn trừ số tiền nợ hụi tổng cộng là 29.000.000 đồng này của bà Đ, bà T cũng được hai bà thừa nhận. Do đó bà X yêu cầu bà M trả tiền nợ hụi 93.500.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.
Trong thời gian dây hụi 5.000.000 đồng được khui ngày 25/01/2015 âm lịch, mãng hụi vào tháng 02/2017 âm lịch là trong thời kỳ hôn nhân của bà Trương Thị Thúy M và ông Lê Phước H1. Căn cứ Trích lục kết hôn số 1060/TLHK-BS ngày 10/9/2024, bà M và ông H1 có đăng ký kết hôn ngày 06/9/2006 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Có các nhân chứng gồm ông Phạm Văn Q, bà Nguyễn Thị Tường V trình bày ông Q, bà V có tham gia dây hụi 5.000.000 đồng này và ông H1 là chồng bà M có biết và có một số lần thay bà M đi gom tiền đóng hụi của ông Q, bà V. Mặt khác, tại phiên hòa giải ngày 11/7/2024, bà M có trình bày về mục đích bà làm chủ hụi để tạo thu nhập phục vụ nhu cầu sinh sống trong gia đình. Từ đó cho thấy ông H1 có cùng với bà M thống nhất làm chủ dây hụi 5.000.000 đồng khui ngày 25/01/2015 âm lịch nêu trên. Đối với ông H1, quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa ông đều không có ý kiến phản bác, không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án, cho nên ông đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh của mình. Nên ông H1 có trách nhiệm cùng với bà M trả tiền nợ hụi cho bà X 93.500.000 đồng là phù hợp.
Do đó, bà X yêu cầu bà M, ông H1 có trách nhiệm trả số tiền nợ hụi là 93.500.000 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về tiền nợ hụi 29.000.000 đồng, do bà M xin rút yêu cầu nên Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu này của bà.
[3] Xét ý kiến của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.
[4] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà X nên bà M, ông H1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, các Điều 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Khoản 1 Điều 117, Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- - Điều 23 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim X.
Buộc bà Trương Thị Thúy M, ông Lê Phước H1 có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Kim X số tiền nợ hụi là 93.500.000 (Chín mươi ba triệu năm trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim X về việc yêu cầu bà Trương Thị Thúy M, ông Lê Phước H1 có trách nhiệm trả tiền nợ hụi là 29.000.000 (Hai mươi chín triệu) đồng.
Về án phí:
Buộc bà Trương Thị Thúy M, ông Lê Phước H1 chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 4.675.000 (Bốn triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.
Trả cho bà Nguyễn Thị Kim X tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.063.000 (Ba triệu không trăm sáu mươi ba nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0006517 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Xuân Nữ |
Bản án số 110/2024/DS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp nợ hụi
- Số bản án: 110/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp nợ hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP HỤI, NGUYỄN THỊ KIM X - LÊ PHƯỚC H
