Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÂM

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/HS-ST

Ngày 12-9-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Mười.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Văn Khanh và ông Đỗ Trọng Thực

Thư ký phiên toà: Ông Lê Tiến Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 101/2024/TLST - HS ngày 20/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2024/QĐXXST - HS ngày 29/8/2024 đối với các bị cáo:

1. Lù Văn C, sinh năm 2002.

Nơi sinh, cư trú: Bản Bỉa Ban, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lù Văn D và bà Tòng Thị E; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có. Nhân thân: Ngày 02/02/2023 bị Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng ma túy với thời gian là 12 tháng. Bị cáo C bị tạm giữ từ ngày 14/5/2024, tạm giam từ ngày 17/5/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Lù Văn B, sinh ngày 19/01/2006.

Nơi sinh, cư trú: Bản Bỉa Ban, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lù Văn T và bà Tòng Thị L; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có. Nhân thân: Ngày 19/7/2022, bị Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q ra quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 11/8/2022, Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La ra Quyết định số áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở bắt buộc với thời gian 12 tháng. Bị cáo B bị tạm giữ từ ngày 14/5/2024, tạm giam ngày 17/5/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lù Văn C, sinh năm 2002 và Lù Văn B, sinh ngày 19/01/2006 ở bản B, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La là đối tượng nghiện các chất ma tuý, không có việc làm ổn định. Ngày 11/5/2024, C đến phòng trọ tại tổ dân phố L, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên của anh Là Văn Q, sinh năm 1979 ở cùng bản Bỉa Ban ở nhờ.

C tự khai: Vào trưa ngày 12/5/2024, C thuê xe ôm đi từ phòng trọ của anh Q đến khu vực khu phố C, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, C đã gặp một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ và hỏi mua 100.000 đồng tiền ma túy loại Heroine, người đàn ông này cầm 100.000 đồng của C rồi đưa cho C 01 gói giấy bạc, bên trong đựng ma túy loại Heroine, C cất trong người rồi đi đến khu vực vắng người (không rõ địa chỉ cụ thể) C đã bỏ gói ma tuý ra sử dụng một ít. Số ma tuý còn lại C gói vào giấy bạc rồi cho vào trong ví da màu nâu của C, để sau sử dụng tiếp.

Khoảng 06 giờ ngày 14/05/2024, khi C và anh Q đang ở phòng trọ của anh Q thì Lù Văn B, sinh ngày 19/01/2006 ở Bản B, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La đến phòng trọ của anh Q xin ở nhờ, anh Q đồng ý. Sau đó, anh Q đi làm, lúc này ở phòng trọ chỉ còn có B và C. Do cả hai đều quen biết nhau từ trước và đều là người nghiện ma túy. Khoảng 09 giờ ngày 14/05/2024, lúc này C lên cơn nghiện muốn sử dụng ma tuý, do số ma tuý cất trong ví không đủ sử dụng, nên C rủ B góp tiền mua ma tuý về sử dụng, B đồng ý. C và B góp mỗi người số tiền 250.000 đồng, cả hai được 500.000 đồng để đi mua ma tuý. B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu đỏ đen trắng, không lắp biển kiểm soát chở C đi từ phòng trọ đến khu vực một ngã tư đèn xanh đèn đỏ giao thông thuộc thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Tại đây, C và B gặp 02 người đàn ông không rõ tên, địa chỉ, đều mặc áo chống nắng màu đen, có mũ chùm kín đầu và che mặt đang ngồi trên xe máy. C hỏi “anh còn hàng không” - ý hỏi có bán ma tuý không, người đàn ông ngồi sau trả lời “còn”, C nói “cho em 5” - ý nói muốn mua 500.000 đồng ma tuý, đồng thời Chiến đưa số tiền 500.000 đồng cho người đàn ông ngồi sau, người này nhận tiền rồi lấy từ trong ví đang cầm trên tay đưa cho C 01 gói giấy màu bạc, kiểm tra bên trong có 05 gói giấy bạc nhỏ nữa, mỗi gói giấy bạc đều chứa ma tuý loại Heroine. C nhận số ma tuý trên rồi cầm trong lòng bàn tay phải và bảo B điều khiển xe máy về hướng huyện V, tỉnh Hưng Yên. Khi đi đến đoạn đường A KCN P, huyện V, tỉnh Hưng Yên thì bị Lực lượng Công an huyện V kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng gồm: Thu giữ tại bàn tay phải của Lù Văn C 01 gói giấy bạc đựng 05 gói giấy bạc, bên trong mỗi gói giấy bạc chứa chất màu trắng, dạng cục và bột; được niêm phong trong phong bì, ký hiệu M1; Thu giữ tại túi quần sau bên phải quần sooc màu đen Lù Văn C đang mặc 01 ví giả da màu nâu, ngăn thứ 3 có kéo khoá ngang có 01 gói giấy bạc bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục và bột; được niêm phong trong phong bì, ký hiệu M2; 01 Căn cước công dân số: [...] mang tên Lù Văn B, cấp ngày 07/9/2023 tại Cục C1; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 26002298 mang tên Quàng Văn Ơ, địa chỉ: Lọng M, M, Q do Phòng CSGT Công an tỉnh S cấp ngày 02/3/2021; 01 biển kiểm soát 26B1- 051.15; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu đỏ đen trắng, không lắp biển kiểm soát, số khung: RLHJC3506AY4214358, số máy: JC35E3242863; 01 ví giả da màu nâu, mặt ngoài có in dập nổi dòng chữ “BABTO”.

Ngày 14/05/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lù Văn C và Lù Văn B tại tổ dân phố L, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên, kết quả khám xét không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì thêm.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành xét nghiệm nước tiểu đối với Lù Văn C, Lù Văn B. Kết quả xét nghiệm xác định C và Bình dương T1 với ma túy, loại Heroine.

Tại bản thông báo kết luận giám định sơ bộ số 359 ngày 14/5/2024 và Bản Kết luận giám định đều số 359/KL-KTHS(MT) ngày 17/05/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận:

-Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu “M1”, có khối lượng là 0,228g, là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục các chất ma túy và tiền chất.

- Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu “M2”, có khối lượng là 0,049g, là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục các chất ma túy và tiền chất.

Hoàn lại mẫu vật trong một niêm phong ghi số 359/KL-KTHS(MT), (bên trong có: 0.212g ma tuý, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục các chất ma túy và tiền chất trong niêm phong ghi ký hiệu M1; 0,049g, là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục các chất ma túy và tiền chất trong niêm phong ghi ký hiệu M2, các mảnh giấy bạc gói ma tuý và 02 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định).

Đối với mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu đỏ đen trắng, số khung: RLHJC3506AY4214358, số máy: JC35E3242863 mà B và C sử dụng đi mua ma tuý và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 26002298 mang tên Quàng Văn Ơ, qua điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Lù Văn T, sinh năm 1980 ở Bản B, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La, (là bố của Lù Văn B), tối ngày 13/05/2024, B tự ý lấy và điều khiển xe máy trên để đi đến Hưng Yên tìm kiếm việc làm. Ông T không giao xe và không biết B sử dụng chiếc xe máy trên làm phương tiện thực hiện hành vi mua ma tuý. Nên ngày 22/07/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện V đã trả cho anh T xe mô tô và đăng ký xe, anh T nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.

Đối với 01 phong bì niêm phong hoàn lại mẫu vật gửi giám định số 359/KL-KTHS(MT) của phòng K Công an tỉnh H; 01 Căn cước công dân số: [...] mang tên Lù Văn B, cấp ngày 07/9/2023 tại Cục C1; 01 ví giả da màu nâu, mặt ngoài có in dập nổi dòng chữ “BABTO”. Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã nhập Kho vật chứng của Công an huyện V chờ xử lý theo quy định.

Đối với ba người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ mà C và B khai đã bán ma túy cho C và B tại thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, Cơ quan điều tra Công an huyện V có công văn đến Cơ quan điều tra Công an thị xã T, tỉnh Bắc Ninh để giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, Lù Văn C và Lù Văn B thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên, lời khai của C và B phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được Cơ quan điều tra Công an huyện V thu thập trong hồ sơ vụ án

Tại bản cáo trạng số: 102/CT-VKSVL ngày 20/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Lù Văn C và Lù Văn B đều về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, đề nghị giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Các bị cáo Lù Văn C và Lù Văn B phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lù Văn C và Lù Văn B.

Xử phạt: Bị cáo Lù Văn C từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2024.

Xử phạt: Bị cáo Lù Văn B từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu cho tiêu hủy: 01 ví giả da màu nâu, mặt ngoài có in dập nổi dòng chữ “BABTO”; 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 359/KL-KTHS(MT) của Phòng K Công an tỉnh H.

- Trả lại Lù Văn B 01 căn cước công dân số [...] mang tên Lù Văn B.

Về án phí: Các bị cáo Lù Văn C và Lù Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện V và điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâmvà kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ án: Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của người làm chứng; biên bản phạm tội quả tang; biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, kết luận giám định cùng các vật chứng mà cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ. Như vậy có đủ cơ sở khẳng định:

Hồi 11 giờ 00 phút ngày 14/5/2024, tại trục đường A KCN P thuộc địa phận thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Lù Văn C có hành vi tàng trữ trái phép trên người 0,277g ma tuý, loại Heroine, Lù Văn B đồng phạm với C tàng trữ 0,228g ma tuý, loại Heroine với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Hành vi của Lù Văn C và Lù Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Tình hình tệ nạn ma túy đang gây nhức nhối, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội, gây bất bình trong cộng đồng dân cư. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do không làm chủ bản thân nên đã tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy. Việc sử dụng ma tuý ảnh hưởng đến sức khoẻ và phá vỡ các giá trị đạo đức tốt đẹp của con người. Tệ nạn ma tuý là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, một số tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng có nguồn gốc phát sinh từ tệ nạn ma túy. Các bị cáo đều có nhân thân xấu, C và B đều bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, B đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng nhưng các bị cáo vẫn không từ bỏ được ma túy và lại thực hiện hành phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém. Hội đồng xét xử thấy cần phải có mức hình phạt tương xứng, tiếp tục bắt các bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian thì mới đủ điều kiện cải tạo các bị cáo và phòng ngừa các hành vi tương tự xảy ra.

Trong vụ án, hành vi tàng trữ 0,228g ma túy Heroin có đồng phạm tham gia thực hiện tội phạm, nhưng tính chất đồng phạm giản đơn, vai trò các bị cáo cụ thể như sau. Bị cáo C giữ vai trò chính, bị cáo là người khởi xướng, rủ B góp tiền mua ma túy về cùng nhau sử dụng và đồng thời bị cáo cũng trực tiếp là người giao dịch, mua bán ma túy, sau khi mua được ma túy, C là người cất giấu ma túy. Bị cáo B giữ vai trò là người thực hành tích cực, khi C rủ góp tiền mua ma túy, B đồng ý và cùng góp 250.000 đồng với C, sau đó B điều khiển xe mô tô chở C đi mua ma túy.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xét đến quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với hai bị cáo, Hội đồng xét xử có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[3]. Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định các bị cáo đều làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[4]. Về vật chứng và biện pháp tư pháp:

Đối với 01 căn cước công dân số [...] mang tên Lù Văn B là giấy tờ tùy thân của Lù Văn B, không liên quan đến hành vi phạm tội nên sẽ trả lại cho B.

Đối với 01 ví giả da màu nâu, mặt ngoài có in dập nổi dòng chữ “BABTO” là vật chứng của vụ án, C sử dụng để cất giấu ma túy nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 359/KL-KTHS(MT) của Phòng K Công an tỉnh H là vật chứng của vụ án, Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

[5]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Các bị cáo Lù Văn C, Lù Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố: Bị cáo Lù Văn C và Lù Văn B phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2]. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lù Văn C và Lù Văn B.

[3] Xử phạt: Bị cáo Lù Văn C 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2024.

Xử phạt: Bị cáo Lù Văn B 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2024.

[4]. Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu cho tiêu hủy: 01 ví giả da màu nâu, mặt ngoài có in dập nổi dòng chữ “BABTO”; 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 359/KL-KTHS(MT) của Phòng K Công an tỉnh H.

- Trả lại Lù Văn B 01 căn cước công dân số [...] mang tên Lù Văn B.

(Đặc điểm vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 102/QĐ-VKS ngày 20/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên).

[5]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Các bị cáo Lù Văn C và Lù Văn B mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm hình sự.

[6]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên để xét xử phúc thẩm, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân, Công an huyện Văn Lâm;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Văn Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 110/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy Chiến Bình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger