|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH B |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 110/2024/HSST
Ngày 23/5/2024
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Ái Q.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn D
- Bà Lưu Thị T
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị N, Thư ký Toà án nhân dân thành phố P – tỉnh B
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P – tỉnh B tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh B, Tòa án nhân dân thành phố P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 70/2024/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
HUỲNH VĂN T, tên gọi khác: Đ, sinh năm: 1982, tại tỉnh B;
Nơi cư trú : khu phố D, phường Đ, thành phố P, tỉnh B; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn L và bà Kiều Thị B. Có 02 người con.
Tiền sự : không; Tiền án: không
- Nhân thân:
+ Ngày 01/6/2022, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện H ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can về hành vi “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Ngày 21/9/2022, Tòa án nhân dân huyện H ra Quyết định đình chỉ vụ án.
+ Ngày 02/02/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P trong vụ án này.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên khoảng 22 giờ ngày 01/7/2023, bị cáo Huỳnh Văn T1 (sinh năm 1982, trú tại khu phố D, phường Đ, thành phố P, tỉnh B) đi bộ đến con hẻm thuộc phường Đ gặp một người thanh niên (không rõ nhân thân) để hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá thì người này đồng ý. Tảo đưa cho người thanh niên 500.000 đồng, người thanh niên đưa cho T1 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng. Sau khi mua được ma túy, T1 cất gói ma túy vào túi quần phía trước bên trái mà T1 đang mặc rồi đi bộ tìm nơi sử dụng. Khi đi đến trước số nhà F đường P thuộc khu phố D, phường L, thành phố P thì bị lực lượng tuần tra Công an phường lạc Đ1 kiểm tra, phát hiện, thu giữ trong túi quần phía trước bên trái mà T1 đang mặc 01 gói nylon không màu được hàn kín, kích thước (04 x 04)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng, T1 khai nhận đó là ma túy đá T1 tàng trữ để sử dụng nên lực lượng tuần tra đưa T1 về trụ sở để làm việc.
Vật chứng của vụ án:
Thu giữ bên trong túi quần phía trước bên trái mà T1 đang mặc: 01 gói nylon không màu được hàn kín, kích thước (04 x 04)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu mẫu M khi giám định)
Tại kết luận giám định số 803/KL- KTHS ngày 12/7/2023 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:
Mẫu M gửi giám định có khối lượng 1,8760 gam, là Methamphetamine
Hoàn lại mẫu vật gửi đến giám định: 01 gói nylon không màu, một đầu có khóa kéo đỏ cùng 1,8446 gam mẫu M còn lại sau giám định.
Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng K - Công an tỉnh B nêu trên.
Bản cáo trạng số 64/CT – VKSPT-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh B đã truy tố bị cáo Huỳnh Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự;
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Huỳnh Văn T1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T1 với mức hình phạt từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:
Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 803, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B còn lại sau giám định, là vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành.
Đối với đối tượng bán ma túy cho T1, do không xác định được nhân thân nên không có căn cứ để xử lý.
Lời nói sau cùng của bị cáo Huỳnh Văn T1: Bị cáo biết hành vi tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt, bị cáo hứa sẽ học tập rèn luyện để trở thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra Công an thành phố P và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 23 giờ 10 phút ngày 01/7/2023, tại trước số nhà F, đường P thuộc khu phố D, phường L, thành phố P, Huỳnh Văn T1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,8760 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an phường Đ1, thành phố P kiểm tra hành chính phát hiện, bắt giữ.
Xét thấy Huỳnh Văn T1 là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức đầy đủ về hành vi của mình đối với xã hội. Bị cáo nhận thức được những tác hại nguy hiểm của ma túy đối với sức khỏe con người, đối với cộng đồng xã hội và việc tàng trữ chất ma túy là trái pháp luật. Nhà nước nghiêm cấm và xử lý nghiêm khắc đối với mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng bị cáo đã xem thường pháp luật, đã tàng trữ ma túy bất chấp hậu quả. Do đó đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Huỳnh Văn T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, thể hiện tính nguy hiểm cao cho xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và cũng là để giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, xét thấy tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, sẽ được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo an tâm rèn luyện tu dưỡng sớm trở thành người có ích cho xã hội.
[4] Về xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 803, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B, là vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành. Do vậy, cần áp dụng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tịch thu tiêu hủy.
[5] Đối với nguồn gốc ma túy tàng trữ, bị cáo khai của một người thanh niên. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P chưa xác định được nhân thân nên không có căn cứ để xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí : Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn T1 phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn T1 01 (Một) năm 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 803, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.
Vật chứng ghi trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành phố P quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 110 ngày 04/5/2024.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết, tuyên buộc bị cáo Huỳnh Văn T1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/5/2024).
|
Nơi nhận
|
TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Ái Quyên |
Bản án số 110/2024/HSST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH B về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 110/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH B
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma túy
