|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: ..../2024/HNGĐ-ST Ngày 20-6-2024 V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hồng Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Minh Tấn;
Ông Trần Quý Hoà.
Thư ký phiên tòa:
Bà Vi Thị Mơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa:
Ông Trần Đức Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 20/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 76/2024/TLST-HNGĐ ngày 02/5/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1992;
Địa chỉ: Thôn B, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh Q, sinh năm 1992;
Địa chỉ: Thôn N, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.
Nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02/5/2024 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị S trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Minh Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, sau đó đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 04/5/2023, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại xã Â, huyện H. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, có với nhau 01 con chung tên Nguyễn Duệ Y, sinh ngày 01/9/2023, hiện con đang được bà nuôi dưỡng ổn định. Bà làm nghề dược sỹ, thu nhập bình quân 20.000.000 đồng/tháng. Mâu thuẫn phát sinh từ tháng 10 năm 2023, bà dẫn con về nhà mẹ đẻ ở xã Â, huyện H sinh sống cho đến nay. Từ đó đến nay, vợ chồng không liên lạc thường xuyên với nhau, nên tình cảm vợ chồng không hàn gắn được. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không cùng quan điểm sống, tính cách không hợp, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi. Nay cảm thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Minh Q.
Về con chung: Bà yêu cầu được nuôi 01 con chung tên Nguyễn Duệ Y, sinh ngày 01/9/2023, bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai ngày 06/5/2024 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, bị đơn ông Nguyễn Minh Q trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, sau đó đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 04/5/2023, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại xã Â, huyện H. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, có với nhau 01 con chung tên Nguyễn Duệ Y, sinh ngày 01/9/2023, hiện con đang được bà S nuôi dưỡng ổn định. Ông làm nghề tự do, thu nhập bình quân 7.000.000 đồng/tháng. Mâu thuẫn phát sinh từ tháng 10 năm 2023, bà S dẫn con về nhà mẹ đẻ ở xã Â, huyện H sinh sống cho đến nay. Từ đó đến nay, vợ chồng không liên lạc thường xuyên với nhau, nên tình cảm vợ chồng không hàn gắn được. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không cùng quan điểm sống, tính cách không hợp, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi. Nay cảm thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên bà S yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý.
Về con chung: Ông đồng ý giao con chung tên Nguyễn Duệ Y, sinh ngày 01/9/2023 cho bà S tiếp tục nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát huyện H, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn thụ lý hồ sơ, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà Nguyễn Thị S và ông Nguyễn Minh Q không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị S được ly hôn ông Nguyễn Minh Q.
Về con chung: Đề nghị giao con chung Nguyễn Duệ Y, sinh ngày 01/9/2023 cho bà Nguyễn Thị S tiếp tục nuôi dưỡng; ông Nguyễn Minh Q không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị S có đơn yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Minh Q. Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Nguyễn Minh Q có hộ khẩu thường trú tại xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân.
[2] Xét đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt của bà Nguyễn Thị S, ông Nguyễn Minh Q. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà S, ông Q.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị S và ông Nguyễn Minh Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 04/5/2023 nên hôn nhân của vợ chồng ông bà là hợp pháp. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, mâu thuẫn phát sinh từ tháng 10 năm 2023, bà S dẫn con về nhà mẹ đẻ ở xã Â, huyện H sinh sống cho đến nay. Từ đó đến nay, vợ chồng không liên lạc thường xuyên với nhau, nên tình cảm vợ chồng không hàn gắn được. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không cùng quan điểm sống, tính cách không hợp, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi.
Nay, bà Nguyễn Thị S và ông Nguyễn Minh Q đều xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể đoàn tụ được nên bà S ông Q đồng ý ly hôn. Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà S, ông Q mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, cho dù có kéo dài cuộc sống vợ chồng cũng không hạnh phúc và thực tế họ đã không còn sống chung với nhau, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] Về con chung: Bà Nguyễn Thị S và ông Nguyễn Minh Q có 01 con chung tên Nguyễn Duệ Y, sinh ngày 01/9/2023. Hiện con đang được bà S nuôi dưỡng ổn định, bà S làm nghề dược sỹ, thu nhập bình quân 20.000.000 đồng/tháng và ông Q cũng đồng ý giao con cho bà S tiếp tục nuôi dưỡng. Nên giao con chung cho bà S tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị S và ông Nguyễn Minh Q không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: Bà Nguyễn Thị S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51; 56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
Bà Nguyễn Thị S được ly hôn ông Nguyễn Minh Q.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Duệ Y, sinh ngày 01/9/2023 cho bà Nguyễn Thị S tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Minh Q được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, các bên: Người thân thích của con; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
5. Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm, bà Nguyễn Thị S phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai thu số 0004661, ngày 02/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết bản án theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
|
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Bình Định;
- - VKSND huyện Hoài Ân + Tỉnh;
- - Các bên đương sự,
- - CC THADS huyện Hoài Ân;
- - UBND xã Ân Tín, huyện Hoài Ân;
- - Lưu HSVA, VPTA.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Hồng Nam |
Bản án số /2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: /2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Sang, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn Bình Hoà Bắc, xã Ân Hảo Đông, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. - Bị đơn: Ông Nguyễn Minh Quyền, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn Năng An, xã Ân Tín, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định
