|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 110/2024/HS-ST Ngày: 14.5.2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Châu Thị Hoài Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Nguyệt
2. Bà Phạm Nguyễn Phương Thà.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Giang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân thành phố T, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2024/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 13/2024/QĐST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Huỳnh Văn T, sinh năm 1994 tại Bạc Liêu; nơi đăng ký HKTT: Ấp N, xã C, huyên V, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Hiền T1, không rõ năm sinh và bà Huỳnh Mỹ L, sinh năm 1960. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/7/2023 cho đến nay. Bị cáo có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Võ Huỳnh D, sinh năm 1995; nơi đăng ký HKTT: Khóm T, Phường B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Huỳnh Văn T và Võ Huỳnh D là bạn với nhau. Ngày 08/7/2023, bị cáo T mượn xe mô tô kiểu dáng Honda DH88 màu đỏ, biển số 53R3-7716 của D đi công việc. Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 09/7/2023, bị cáo T điều khiển xe mô tô trên đến gặp một người đàn ông tên H, khoảng 25 tuổi, cao khoảng 1m70cm, dáng người mập, tóc hớt ngắn, da ngăm, nói giọng miền N tại khu vực trường tiểu học B thuộc khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để mua 300.000đồng ma túy rồi cất giấu vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc. Bị cáo điện thoại và biết D đang ở tiệm internet gần cổng trường tiểu học B, nhưng xe gần hết xăng nên bị cáo đã điều khiển xe đến chở D đi đổ xăng trước rồi về nhà.
Đến khoảng 00 giờ 15 phút cùng ngày, khi bị cáo điều khiển xe mô tô chở D về đến khu vực trước trường tiểu học B thì bị lực lượng Công an phường T yêu cầu dùng xe để kiểm tra. Lúc này, bị cáo khai nhận bản thân có sử dụng chất ma túy và tự nguyện lấy từ trong túi quần phía trước bên phải đang mặc trên người ra 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu YETT bên trong có 01 nắp chai nhựa, 01 ống thủy tinh, 02 gói nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng giao nộp. Do đó, lực lượng Công an phường T lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận: Ma tuý bị thu giữ là của bị cáo. Bị cáo mua ma tuý để sử dụng cho bản thân; D không biết việc bị cáo mượn xe để đi mua ma tuý và cũng không biết lúc đó bị cáo có cất giấu ma tuý trong người.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) bì thư niêm phong bên trong có 02 (hai) gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn ma túy tổng hợp) ký hiệu M1, M2; 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Honda DH88 màu đỏ, biển số 53R3-7716, số khung: không có; số máy: DH88XE1163921; 01 (một) nắp chai làm bằng nhựa màu đỏ, được khoét 02 lỗ hình tròn; 01 (một) ống thủy tinh; 01(một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu YETT.
Ngày 17/7/2023, Phòng K Công an tỉnh B có kết luận giám định số 408/KL-KTHS(MT) với nội dung: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,6624gam gồm M1=0,1444gam và M2=0,5180gam.
Tại bản Cáo trạng số 86/CT-VKS-TA ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Huỳnh Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; tịch thu tiêu hủy: 01 (một) nắp chai làm bằng nhựa màu đỏ được khoét 02 lỗ hình tròn, 01 (một) ống thủy tinh, 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu YETT, 01 (một) bì thư niêm phong ký hiệu 408/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng K Công an tỉnh B.
Bị cáo có đơn xin được xét xử vắng mặt và trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét quyết định mức hình phạt nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm trở về lao động chăm lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Bị cáo Huỳnh Văn T có yêu cầu xét xử vắng mặt, đơn được Nhà tạm giữ công an thành phố T xác nhận. Xét thấy đây là yêu cầu tự nguyện của bị cáo, việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử phù hợp với điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị cáo.
[2] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[3] Tại biên bản làm việc (bút lục 02), bản tường trình (bút lục 62 - 63), biên bản hỏi cung bị can (bút lục 68-69), biên bản ghi lời khai (bút lục 64-65, 66-67): Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 09/7/2023, tại khu vực trước trường tiểu học B thuộc khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Huỳnh Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,6624gam nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Do đó, cáo trạng truy tố bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, người sử dụng ma túy sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng đồng thời là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, tạo nên gánh nặng cho xã hội, gây tha hóa biến chất một bộ phận nhân dân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng là vi phạm pháp luật Hình sự nhưng để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã cất giấu ma túy, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Vì vậy phải xét xử mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại đơn xin vắng mặt, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đối chiếu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Đối với Võ Huỳnh D: Qua điều tra xác định D không biết việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xem xét xử lý vai trò đồng phạm là có căn cứ.
Tuy nhiên, qua xét nghiệm, D cũng được xác định là dương tính với ma túy, loại Methamphetamine và tự khai nhận bản thân có sử dụng ma tuý tại phòng trọ thuộc phường B lần gần nhất vào ngày 07/7/2023 nên Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ.
[6] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên sẽ tiếp tục xác minh và xử lý sau.
[7] Đối với hành vi tàng trữ dụng cụ để sử dụng ma túy của bị cáo: Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo về hành vi “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ.
[8] Xử lý vật chứng:
[8.1] Đối với 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Honda DH88 màu đỏ, biển số 53R3-7716, số khung: không có; số máy: DH88XE1163921: Qua điều tra xác định đây là tài sản của Võ Huỳnh D. Ngày 08/7/2023, D cho bị cáo mượn xe nhưng không biết bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T trả lại xe trên cho D là có căn cứ.
[8.2] Đối với các vật chứng gồm: 01 (một) nắp chai làm bằng nhựa màu đỏ được khoét 02 lỗ hình tròn, 01 (một) ống thủy tinh và 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu YETT: Đây là các dụng cụ để sử dụng ma túy của bị cáo nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8.3] Đối với 01 (một) bì thư niêm phong ký hiệu 408/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng K Công an tỉnh B bên trong có 0,5758gam ma túy, loại Methamphetamine: Đây là chất cấm nên cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
- Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/7/2023.
2. Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) nắp chai làm bằng nhựa màu đỏ, được khoét 02 lỗ hình tròn; 01 (một) ống thủy tinh; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu YETT và 01 (một) bì thư niêm phong ký hiệu 408/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng K Công an tỉnh B
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/3/2024 giữa Công an thành phố T với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Huỳnh Văn T phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Thị Hoài Phương |
Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 110/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
