Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/HS-ST

Ngày 18-06-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Mai

Bà Hà Thị Nga

- Thư ký phiên toà: Ông Phùng Hoàng Phú- Thư ký Toà án nhân dân quận

Lê Chân, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh Hoàng- Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 06 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 121/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 509/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 06 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Văn P, sinh ngày 10 tháng 03 năm 1991 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C (đã chết) và bà Đào Thị X, có vợ là Phạm Thị B (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 18/02/2024; tạm giam ngày 23/02/2024; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ ngày 18/02/2024, tổ công tác Công an phường V kết hợp cùng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận L làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn thì phát hiện thấy Phạm Văn P đi xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu đen biển kiểm soát 16F3-1192 ở khu vực ngõ E T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tiến hành kiểm tra, thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của P có 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong có: 01 túi nilon trong suốt mép đỏ kích thước 05cm x 09cm đựng 01 gói giấy nhỏ kích thước khoảng 01cm x 02cm chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy (mẫu số 1); 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa 01 gói giấy nhỏ kích thước khoảng 01cm x 02cm đựng chất bột màu trắng nghi là ma túy (mẫu số 2). Ngoài ra, còn thu giữ 01 xe máy, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X và số tiền 1.330.000đồng. Sau đó, tổ công tác đã đưa P về trụ sở Công an phường V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số 172 ngày 22/02/2023 của phòng K Công an thành phố H xác định: Chất bột màu trắng thu giữ của mẫu số 01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,18gam, loại Heroine; chất bột màu trắng của mẫu số 02 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,07gam, loại Heroine.

Tại cơ quan điều tra, Phạm Văn P khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/02/2024, P đi xe máy đến khu vực đường T để tìm mua ma tuý về sử dụng. Tại đây, P gặp một nam giới không rõ lai lịch và thỏa thuận mua 200.000đồng ma túy; sau đó, cả hai đi vào đường T, khi đi đến giữa ngõ E T thì dừng lại, P đưa cho người nam giới này 500.000đồng rồi đứng chờ. Người nam giới đi vào trong ngõ, một lúc sau quay lại đưa cho P 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong chứa ma túy rồi bỏ đi và cũng không trả lại 300.000đồng cho P. P cất số ma túy vừa mua vào túi quần phía trước bên phải rồi đi ra khỏi ngõ E T thì bị kiểm tra bắt giữ.

Đối với người nam giới bán ma túy cho P, quá trình đều tra không xác định được lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở để điều tra, làm rõ.

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 16F3-1192, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Tại Cáo trạng số 133/CT-VKS ngày 30 tháng 05 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận L đã truy tố bị cáo Phạm Văn P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quyết định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Văn P mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Do bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói được niêm phong trong bì thư;

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X và số tiền 1.330.000 đồng;

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy:

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng, báo cáo bắt giữ, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 18/02/2024, tại khu vực ngõ E T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng, bị cáo Phạm Văn P đã có hành vi cất giữ trái phép 0,25gam Heroine để sử dụng. Do vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Văn P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây tác hại xấu đến sức khỏe con người và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Heroine là chất ma tuý nằm trong danh mục quản lý của Nhà nước, cấm cất giữ, lưu hành dưới mọi hình thức; nhưng để thỏa mãn nhu cầu của mình, bị cáo đã cất giữ trái phép để sử dụng, tội phạm bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Nhân thân bị cáo chưa tiền án, tiền sự; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, xử phạt bị cáo mức hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

- Về hình phạt bổ sung:

[7] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Do bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

[8] Số ma tuý mà cơ quan Công an thu giữ khi bắt giữ bị cáo, sau khi lấy đi giám định, lượng còn lại xét là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ;

[9] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X và số tiền 1.330.000đồng thu giữ của bị cáo; quá trình điều tra xác định là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án.

- Về án phí:

[10] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

[11] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn P 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18 tháng 02 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói được niêm phong trong bì thư số 172 MT/PC09;

Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen có số Imel: 359406081784775.

(Theo đúng Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 31 tháng 05 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).

Trả lại bị cáo số tiền 1.330.000đ (Một triệu, ba trăm ba mươi nghìn đồng) nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án;

(Số tiền này Công an quận L đã Ủy nhiệm chi cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân ngày 12 tháng 06 năm 2024);

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hương

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Cơ quan CSĐT CA quận Lê Chân;
  • - Cơ quan THAHS CA quận Lê Chân;
  • - Trại tạm giam CATP Hải Phòng;
  • - Sở tư pháp TP Hải Phòng;
  • - PV06, PC10 CATP Hải Phòng;
  • - UBND xã Mỹ Đức, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 110/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn P - tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger