Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN C

TỈNH LONG AN

Bản án số: 110/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17-7-2024

V/v ly hôn giữa bà M và ông V

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thủy Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Trọng Hiếu.
  2. Ông Nguyễn Văn Tạo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Chí Hiếu – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 310/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 về Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Hoàng M, sinh năm: 1975;
  2. Địa chỉ: ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

  3. Bị đơn: Ông Trần Văn V, sinh năm: 1975;
  4. Địa chỉ: ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

(Bà M và ông V có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Hoàng M trình bày:

Về hôn nhân: bà M và ông V tổ chức lễ cưới vào năm 1997, có đăng ký kết hôn ngày 14/5/2012 tại Ủy ban nhân dân xã T, hôn nhân tự nguyện. Từ sau khi cưới, vợ chồng đã chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân là do ông V thường xuyên ăn nhậu, quậy phá. Bà M có khuyên ngăn nhưng ông V không thay đổi dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn được nữa nên bà M yêu cầu được ly hôn với ông V.

Về con chung: bà M và ông V có 02 con chung tên Trần Thị V1, sinh ngày 18/11/1998 và Trần Quốc S, sinh ngày 26/7/2000. Hiện nay cả 02 con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

- Theo Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 21/6/2024, bị đơn ông Trần Văn V trình bày:

Về hôn nhân: ông V và bà M cưới nhau vào khoảng năm 1997, hôn nhân tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 14/5/2012 tại Ủy ban nhân dân xã T. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc sau đó dần dần phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến cãi nhau. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Nay bà M yêu cầu ly hôn, ông V đồng ý do vợ chồng không hàn gắn được.

Về con chung: có 02 người con chung là Trần Thị V1, sinh năm 1998 và Trần Quốc S, sinh năm 2000. Hiện nay 02 đều đã trưởng thành nên ông V không có yêu cầu gì.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Do bận công việc nên ông V đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ông V trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án các cấp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu:

  1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
    • - Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
    • + Về thẩm quyền thụ lý vụ án: đúng quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
    • + Quan hệ pháp luật tranh chấp: tranh chấp ly hôn.
    • + Xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng: đúng quy định.
    • + Việc thu thập chứng cứ: Thẩm phán đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự.
    • + Việc tống đạt cho các đương sự: đúng quy định.
    • + Thời hạn chuẩn bị xét xử đúng với quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
    • + Vụ án này thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự. Thời gian giao hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định khoản 2 Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự.
    • - Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
    • - Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
  2. Về việc giải quyết vụ án:
  3. Xét nội dung tranh chấp và các tình tiết của vụ án nhận thấy:

    Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Hoàng M và ông Trần Văn V xác lập hôn nhân vào năm 1997 có thực hiện việc đăng ký kết hôn tại UBND xã T năm 2012 và được cấp giấy chứng nhận ĐKKH số 49/2012 quyển số 01/2012 ngày 14/5/2012 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận, bảo vệ. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu, về sau vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống trong cuộc sống hằng ngày vợ chồng thường xuyên cãi vả. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2022 đến nay, cả hai vợ chồng đều không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Nhận thấy tình cảm vợ chồng cần phải vun đấp từ hai phía mới đảm bảo cuộc sống chung hạnh phúc, cả hai vợ chồng đều không có biện pháp hàn gắn tình cảm gia đình, khắc phục mâu thuẫn, tình trạng hôn nhân của bà M và ông V đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó yêu cầu của bà M được ly hôn với ông V là có căn cứ để chấp nhận.

    Về con chung: con chung đã thành niên, đủ khả năng lao động chăm sóc bản thân, không yêu cầu giải quyết.

    Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.

  4. Yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm: không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Bà Phạm Thị Hoàng M khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn V, ông V có nơi cư trú tại xã L, huyện C nên Tòa án nhân dân huyện C thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Bà Phạm Thị Hoàng M và ông Trần Văn V có đề nghị giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà M và ông V theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Về hôn nhân: bà Phạm Thị Hoàng M và ông Trần Văn V có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 49/2012, quyển số 01/2012, ngày 14/5/2012 nên xác định hôn nhân giữa bà M và ông V là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà M trình bày, từ sau khi cưới, vợ chồng đã chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân là do ông V thường xuyên ăn nhậu, quậy phá. Bà M có khuyên ngăn nhưng ông V không thay đổi dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn được nữa nên bà M yêu cầu được ly hôn với ông V. Ông V trình bày, sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc sau đó dần dần phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến cãi nhau. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Nay bà M yêu cầu ly hôn, ông V đồng ý do vợ chồng không hàn gắn được. Qua đó, có đủ cơ sở xác định mẫu thuẫn vợ chồng giữa bà M và ông V không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà M đối với ông V.

[2.2] Về con chung: bà M và ông V xác định có 02 con chung tên Trần Thị V1, sinh ngày 18/11/1998 và Trần Quốc S, sinh ngày 26/7/2000, hiện nay đều đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: bà M và ông V trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về án phí: bà M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Hoàng M về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Trần Văn V.

  1. Về hôn nhân: bà Phạm Thị Hoàng M được ly hôn với ông Trần Văn V.
  2. Về con chung: có 02 con chung tên Trần Thị V1, sinh ngày 18/11/1998 và Trần Quốc S, sinh ngày 26/7/2000, hiện nay đều đã trưởng thành.
  3. Về án phí: bà Phạm Thị Hoàng M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà M đã nộp theo biên lai thu số 0010555 ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, bà M đã nộp đủ.
  4. Về quyền kháng cáo bản án sơ thẩm: đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện C;
  • - THADS huyện C;
  • - UBND xã Tân Trạch;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, lưu án văn;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thủy Tiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HNGĐ-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 110/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger