Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHÚ MỸ

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/HS-ST

Ngày: 16-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Thường

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Phan Thị Sơn
  2. Bà Nguyễn Thị Bạch Gương

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân -Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Trường G - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 101/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐXXST - HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thành N; tên gọi khác: J; sinh ngày 23/12/1997 tại tỉnh Quảng Nam; hộ khẩu thường trú: Khu phố E, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chỗ ở: Khu phố D, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Đoàn Thị T1, sinh năm 1968; tiền án: Không; tiền sự: Không.

    Bị tạm giữ ngày 20/12/2023, chuyển tạm giam ngày 29/12/2023 (Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã P - có mặt tại phiên tòa).

  2. Nguyễn Thu T2; sinh ngày 26/11/2003 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: Tổ A, thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân Q, sinh năm 1968 và bà Cao Thị Y, sinh năm 1974; có chồng là Trần K, sinh năm 1997. Tiền án: Không; tiền sự: Không.

    Bị bắt tạm giữ ngày 19/12/2023, chuyển tạm giam ngày 28/12/2023 (Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã P - có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thành N1, sinh năm 1991

Địa chỉ: Khu phố B, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Có mặt).

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài nên Nguyễn Thành N rủ Nguyễn Thu T2 cùng nhau bán trái phép chất ma túy cho người nghiện khác để kiếm lời, T2 đồng ý. Cả hai thống nhất, sau khi N mua ma túy về sẽ giao cho T2 để T2 trực tiếp bán cho những người nghiện, nếu T2 bán được 01 viên thuốc lắc với giá 300.000 đồng thì T2 được hưởng 50.000 đồng, còn giao lại cho N 250.000 đồng; một gói ma túy khay loại 01 chấm T2 bán với giá 800.000 đồng thì T2 được hưởng 200.000 đồng, còn 600.000 đồng chuyển lại cho N; 01 gói ma túy khay loại nữa hộp 5 Trang bán được 2.500.000 đồng thì T2 được hưởng 500.000 đồng, chuyển lại cho N 2.000.000 đồng.

Ngày 12/12/2023, N liên hệ với C (không rõ nhân thân lai lịch) mua 15.000.000 đồng tiền ma túy dạng khay và thuốc lắc về để bán lại cho những người nghiện khác. Sau khi mua được ma túy, trưa cùng ngày N bỏ 34 viên thuốc lắc và 22 gói ma túy khay vào trong bịch ny lon màu đen mang đến khu vực chung cư O thuộc tổ A, khu phố V, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu rồi gọi T2 đến lấy. Sáng 19/12/2023, N tiếp tục đưa thêm cho T2 20 viên thuốc lắc để bán. Khoảng 20 giờ ngày 19/12/2023, một người đàn ông tên N2 (không rõ nhân thân lai lịch) liên hệ với T2 hỏi mua 01 viên thuốc lắc và 01 gói ma túy khay với giá 1.100.000 đồng, T2 đồng ý và hẹn N2 đến trước Chung cư O để giao nhận ma túy. Đến 21 giờ cùng ngày, T2 giấu 01 viên thuốc lắc và 01 gói ma túy khay trong khăn giấy ăn đứng trước Chung cư O đợi N2 để giao ma túy thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P kiểm tra, bắt quả tang cùng tang vật. Thu giữ trên tay của Nguyễn Thu T2 01 cục giấy ăn, bên trong có 01 gói nylon hàn kín có chứa chất kết tinh, không màu trong suốt; 01 viên nén, giống hình tam giác, màu hồng, trên một bề mặt có chữ “EA7”; 01 điện thoại di động Iphone, màu xanh nước biển.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thu T2 tại Phòng A, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P thu giữ trong hộc tủ bàn trang điểm đặt trong phòng ngủ của T2 02 gói nylon hàn kín bên trong có chứa chất kết tinh không màu trong suốt và 01 viên nén màu hồng, không rõ hình dạng; thu giữ trong một túi giấy màu nâu cất giấu trong kệ tủ quần áo đặt trong phòng ngủ gồm 12 gói nylon hàn kín bên trong có chứa chất kết tinh không màu trong suốt, 21 viên nén màu hồng, giống hình tam giác, trên một bề mặt có chữ “EA7” và 04 viên nén màu vàng hình vuông, trên bề mặt có chữ “ f”; số tiền 120.000 đồng.

Tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thành N, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P tạm giữ của N 01 điện thoại di động hiệu samsung màu tím; 01 xe mô tô hiệu Honda wave màu đỏ-đen-bạc BKS: 72T3-0034.

Quá trình làm việc với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P, Nguyễn Thu T2, Nguyễn Thành N đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

- Tại Bản kết luận giám định số: 44/KL-KTHS-MT ngày 25/12/2023 của Phòng K1 – Công an tỉnh B-VT kết luận:

Một phong bì màu trắng được niêm phong (số thứ tự 01), có hình dấu của Công an phường P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Nguyễn Thị Bích T3, Nguyễn Văn D, Hồ Minh Đ, Nguyễn Thu T2, bên trong có:

3

  • + 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu - trong suốt (kí hiệu mẫu A1) có khối lượng 0,4395 gam, là ma túy, loại Ketamine.
  • + 01 (một) viên nén hình tam giác màu hồng, có in ký tự “EA7” trên một bề mặt (kí hiệu mẫu A2) có khối lượng 0,3907 gam, là ma túy, loại MDMA.

Một phong bì màu trắng được niêm phong (số thứ tự 02), có hình dấu của Công an phường P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Nguyễn Thị Bích T3, Nguyễn Văn D, Nguyễn Thành P, Lương Thanh Ý, Nguyễn Thu T2, bên trong có:

  • + 02 (hai) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu - trong suốt (kí hiệu mẫu A3) có khối lượng 0,4530 gam, là ma túy, loạiKetamine.
  • + 01 (một) viên nén màu hồng không rõ hình (kí hiệu mẫu A4) có khối lượng 0,3089 gam, là ma túy, loạiMDMA.

Một phong bì màu trắng được niêm phong (số thứ tự 03), có hình dấu của Công an phường P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Nguyễn Thị Bích T3, Nguyễn Văn D, Nguyễn Thành P, Lương Thanh Ý, Nguyễn Thu T2, bên trong có:

  • + 12 (mười hai) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu - trong suốt (kí hiệu mẫu A5) có khối lượng 3,2059 gam, là ma túy, loạiKetamine.
  • + 21 (hai mươi mốt) viên nén hình tam giác màu hồng, có in ký tự “EA7” trên một bề mặt (kí hiệu mẫu A6) có khối lượng 8,3023 gam, là ma túy, loại MDMA.
  • + 04 (bốn) viên nén hình vuông màu vàng, có in ký tự “F” trên một bề mặt (kí hiệu mẫu A7) có khối lượng 1,5926 gam, là ma túy, loại Methamphetamine (BL: 28).

Tổng khối lượng ma túy loại Ketamine là 0,4395 + 0,4530 + 3,2059 = 4,0984 gam. Tổng khối lượng ma túy loại MDMA và Methamphetamnie là 0,3907 + 0,3089 + 8,3023 + 1,5926 = 10,5945 gam.

Căn cứ theo Nghị định số 19/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì tổng khối lượng ma túy Nguyễn Thu T2, Nguyễn Thành N mua bán trái phép được tính như sau: Tỷ lệ % khối lượng ma túy Ketamine so với mức tối thiểu của chất này quy định tại khoản 3 Điều 251 BLHS là: 4,0984 : 100 x 100% = 4,0984 %; Tỷ lệ % khối lượng ma túy MDMA và M, so với mức tối thiểu của chất này quy định tại khoản 3 Điều 251 BLHS là: 10,5945 : 30 x 100% = 35,315%, tổng tỷ lệ % của các chất ma túy trên là 39,4134%. Như vậy tổng khối lượng các chất ma túy Nguyễn Thu T2, Nguyễn Thành N mua bán thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda wave màu đỏ-đen-bạc BKS: 72T3-0034 là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Thành N1 (là anh trai của N), việc N mượn xe mô tô của ông N1 làm phương tiện đi lại rồi sử dụng vào mục đích bất hợp pháp ông N1 không biết. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trả lại xe mô tô trên cho ông N1 theo Quyết định xử lý vật chứng số 503/QĐ ngày 04/4/2024.

Đối với 03 phong bì niêm phong đề số 44/1, 44/2, 44/3 ngày 27/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B gửi trả sau giám định; 01 điện thoại di động Iphone, màu

4

xanh nước biển; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu tím và số tiền 120.000 đồng đã chuyển đến Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Phú Mỹ bảo quản chờ xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 96/CT-VKS ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã truy tố Nguyễn Thành N, Nguyễn Thu T2 về tội “Mua bán phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Trên cơ sở việc hỏi và tranh luận giữa những người tham gia tố tụng được diễn ra công khai, dân chủ và không bị hạn chế.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ thực hiện quyền công tố trình bày lời luận tội đã phân tích, đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi của các bị cáo gây ra; phân tích nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hồi đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành N, Nguyễn Thu T2 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đề nghị Hội đồng xét xử xét xử:

Áp dụng điểm p Khoản 2 Điều 251, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Thành N với mức án từ 07 (Bảy) năm đến 08 (T) năm tù.

Áp dụng điểm p Khoản 2 Điều 251, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Thu T2 với mức án từ 07 (Bảy) năm đến 08 (T) năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Xét Na, T2 là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không cần thiết phải áp dụng mức phạt tiền là hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Nguyễn Thành N, Nguyễn Thu T2 khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và không có ý kiến gì về bản luận tội của Kiểm sát viên;

Các bị cáo Nguyễn Thành N, Nguyễn Thu T2 nói lời sau cùng xin được Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng: Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong quá trình điều tra, truy tố; Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, các tài liệu, chứng cứ được thu thập đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi cũng như quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

5

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

[2.1]. Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai nhận tội tại phiên tòa của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ ngày 19/12/2023, tại trước chung cư O thuộc tổ A, khu phố V, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Nguyễn Thu T2 mang theo 0,4395 gam ma tuý loại Ketamine; 0,3907 gam ma tuý loại MDMA đứng đợi để bán cho đối tượng N2 (không rõ nhân thân lai lịch) với giá 1.100.000 đồng thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Ngoài ra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P còn thu giữ tại phòng ngủ của T2 khối lượng 3,7077 gam ma tuý loại Ketamine; 8,6112 gam ma tuý loại MDMA; 1,5926 gam ma tuý loại Methamphetamine. Bị cáo Nguyễn Thu T2Nguyễn Thành N đều xác nhận tổng khối lượng các loại ma tuý cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P thu giữ của T2 là ma tuý của T2N mua trái phép để nhằm mục đích bán lại kiếm lời.

Do đó, hành vi của Nguyễn Thành N, Nguyễn Thu T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[2.2]. Về khung hình phạt: Tổng khối lượng ma túy Nguyễn Thành N, Nguyễn Thu T2 tàng trữ nhằm mục đích bán lại kiếm lời là 4,0984 gam ma tuý loại Ketamine; 9,0019 gam ma tuý loại MDMA; 1,5926 gam ma tuý loại Methamphetamine. Tổng tỷ lệ % của các chất ma túy trên là 39,4134%. Như vậy tổng khối lượng các chất ma túy Nguyễn Thành N, Nguyễn Thu T2 tàng trữ nhằm mục đích bán lại kiếm lời thuộc trường hợp quy định tại điểm p Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Về vai trò, tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội:

Trong vụ án này Nguyễn Thành N là người khởi xướng và rủ rê Nguyễn Thu T2 tham gia, tuy nhiên các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công, câu kết chặt chẽ nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không có tổ chức. Do đó cần xem xét đến vai trò cụ thể của từng bị cáo khi quyết định hình phạt.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân:

[4.1]. Về tình tiết tăng nặng: Không.

[4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự, quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4.3]. Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt.

[5]. Về mức hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội đồng. Các bị cáo đều là công dân đã trưởng thành, ý thức được pháp luật nghiêm trị hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy cũng như tác hại xấu của ma túy đối sức khỏe nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Đối với Nguyễn Thành N, bị cáo đã khởi xướng hành vi mua ma tuý về bán lại kiếm lời, đã trực tiếp bỏ tiền và liên hệ với đối tượng C (chưa rõ nhân thân, lai lịch) để mua trái phép chất ma tuý, khi mua được ma tuý thì giao ma tuý cho T2 để T2 bán lại kiếm lời và thanh toán tiền công cho T2. Do đó, đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt cao hơn bị cáo T2, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần

6

cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với Nguyễn Thu T2, khi được N rủ rê thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý T2 đã tích cực tham gia. T2 đã trực tiếp nhận ma tuý từ N và bán trái phép chất ma tuý cho đối tượng nghiện để được Na thanh toán tiền công. Do đó, đối với bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung.

[7]. Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau khi giám định;

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh nước biển của Nguyễn Thu T2 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu tím của Nguyễn Thành N do các bị cáo đã sử dụng để liên hệ thực hiện hành vi phạm tội.

Đối với số tiền 120.000 đồng thu giữ của bị cáo T2, là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

[8]. Về các vấn đề khác:

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P tiếp tục điều tra, xác minh nhân thân lai lịch, hành vi phạm tội của đối tượng C, N2. Khi điều tra có kết quả sẽ xử lý trong một vụ án khác.

Ngoài lần mua bán trái phép chất ma túy bị bắt quả tang như đã nêu trên, từ ngày 13/12/2023 đến ngày 19/12/2023 Nguyễn Thành N, Nguyễn Thu T2 còn bán trái phép chất ma tuý cho nhiều người nghiện khác (không rõ nhân thân lai lịch). Do chưa xác định được nhân thân lai lịch của những người mua ma tuý và chỉ có một lời khai duy nhất của T2 nên chưa đủ cơ sở để xử lý T2, N đối với những lần bán trái phép chất ma túy trên. Cơ quan CSĐT Công an thị xã P tiếp tục điều tra làm rõ, khi điều tra có kết quả sẽ xử lý trong một vụ án khác.

[9]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Nguyễn Thành N (tức J), Nguyễn Thu T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

  1. Áp dụng điểm p Khoản 2 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt Nguyễn Thành N 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20 tháng 12 năm 2023.

  2. Áp dụng điểm p Khoản 2 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt Nguyễn Thu T2 07 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19 tháng 12 năm 2023.

7

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;

    Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi giám định được đựng trong 03 (Ba) phong bì niêm phong vụ số 44/1, 44/2, 44/3 ngày 27/12/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh B niêm phong và đóng dấu;

    Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động có dòng chữ Iphone, màu xanh nước biển, số Imel: 353967815030989, máy đã cũ; 01 (Một) điện thoại di động có dòng chữ Samsung, màu tím, số Imel: 352970/50/041340/4, máy đã cũ.

    Trả lại cho Nguyễn Thu T2 số tiền 120.000đ (Một trăm hai mươi nghìn đồng) đại diện Công an thị xã P nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.1054887.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ tại Kho bạc nhà nước P1.

    (Toàn bộ vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 103/BB-CCTHADS ngày 07/6/2024 giữa Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ).

  2. Về án phí Hình sự sơ thẩm: Buộc Nguyễn Thành N, Nguyễn Thu T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
  3. Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND thị xã Phú Mỹ;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - PV 06 - Công an tỉnh BR-VT;
  • - Chi cục THADS thị xã Phú Mỹ;
  • - Sở tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - Công an thị xã Phú Mỹ;
  • - Bị cáo, những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Bùi Xuân Thường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 110/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger