|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 110/2024/DS-ST Ngày: 15-7-2024 V/v Tranh chấp chia tài sản chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Tài.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Phước .
- Ông Hà Văn Châu.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Như Ý, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Đồ Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10 và ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 329/2023/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 288/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị L, sinh năm 1935 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số C, đường L, Khóm C, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lưu Trí D; Địa chỉ: Số C, đường N, Khóm C, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 18-9-2023 – có mặt).
- Bị đơn: Bà Trịnh Thị Q, sinh năm 1937 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số C, đường L, Khóm C, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Lưu Túy L1; Địa chỉ: Số C, đường L, Khóm C, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 09-11-2023 – có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
1/. Bà Trịnh Thị N, sinh năm 1934 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số Ơ, đường D, khu Đô thị E, Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện hợp pháp của bà Trịnh Thị N: Bà Nguyễn Thị Lam T; Địa chỉ: Số G, đường C, Khóm E, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 04-10-2023 – có mặt).
-
2/. Ông Nguyễn Văn T1; Địa chỉ: Số C, đường L, Khóm C, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
-
3/. Bà Nguyễn Thị Thu N1 (Nguyễn Thu N1), sinh năm 1974; Địa chỉ: Số F, đường K, Khóm H, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
-
4/. Ông Nguyễn Thanh L2; Địa chỉ: Nhà không số, đường K, Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
-
5/. Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1975; Địa chỉ: Số I, đường T, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
-
6/. Ông Huỳnh Quốc V, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số C, đường L, Khóm C, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nơi cư trú hiện nay: Số D Đ, khu dân cư E, Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
-
7/. Ông Huỳnh Quốc D1, sinh năm 1986; Địa chỉ: Số C, đường L, Khóm C, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nơi cư trú hiện nay: Số D Đ, khu dân cư E, Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
-
8/. Bà Huỳnh Lý Kim V1, sinh năm 1998; Địa chỉ: Số C, đường L, Khóm C, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nơi cư trú hiện nay: Số D Đ, khu dân cư E, Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
-
9/. Ông Nguyễn Thanh T2; Địa chỉ: Số C, đường L, Khóm C, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
-
10/. Bà Nguyễn Ngọc Như Ý; Địa chỉ: Số C, đường L, Khóm C, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 10 năm 2023 của nguyên đơn bà Trịnh Thị L và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lưu Trí D trình bày:
Nguyên cha mẹ bà Trịnh Thị L là cụ Trịnh Văn H1 và cụ Nguyễn Thị L3 lúc sinh thời, hai cụ có sinh được 03 người con chung gồm: Bà Trịnh Thị N, bà Trịnh Thị L và bà Trịnh Thị Q. Trong quá trình chung sống hai cụ có tạo lập được tài sản chung là hai căn nhà cấp 4 gắn liền với phần đất tại thửa đất số 07, thuộc tờ bản đồ số 08, diện tích 238,7m² (trong đó: đất ở là 200m², đất lâu năm khác là 38,7m²), tọa lạc Khóm C, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Sau khi hai cụ chết đã để lại di sản trên cho 03 chị em bà L đồng đứng tên sở hữu, sử dụng chung và được UBND thành phố S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng vào ngày 18/11/2015. Từ năm 2022 đến năm 2023, gia đình bà Trịnh Thị Q và gia đình bà L thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, xung đột, nhiều lần phải nhờ chính quyền địa phương giải quyết. Vì không muốn tiếp tục xảy ra xô xát nên tháng 6/2023, mẹ con bà L buộc phải rời căn nhà, đi thuê nhà trọ để ở.
Do sự việc mất đoàn kết giữa chị em bà L xảy ra, nên 03 chị em bà L nhiều lần trao đổi về việc bán đi 02 căn nhà và nền đất nêu trên để phân chia tài sản chung, để mỗi người có điều kiện tìm chỗ ở mới sinh sống. Tuy nhiên, bà Q đã khước từ việc bán tài sản chung nói trên và đòi sở hữu tài sản một mình, không chia cho bà L và bà N.
Những vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bao gồm: Chia phần tài sản là 02 căn nhà cấp 4 gắn liền với phần đất có diện tích 238,7m², tại thửa đất số 07, thuộc bản đồ số 08, tọa lạc đường L, Khóm C, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng với giá trị 5.210.000.000 đồng (trong đó phần nhà giá trị 210.000.000 đồng, phần đất giá trị 5.000.000.000 đồng) chia thành 03 phần bằng nhau cho bà Trịnh Thị N, Trịnh Thị L và bà Trịnh Thị Q. Bà L và bà N xin nhận bằng tiền mặt. Phần nhà đất để cho gia đình bà Q sở hữu, sử dụng.
- Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Lưu Túy L1 trình bày:
Phía bị đơn thống nhất theo ý kiến trình bày của phía nguyên đơn về nguồn gốc tài sản tranh chấp là hai căn nhà cấp 4 gắn liền với phần đất tại thửa đất số 07, thuộc tờ bản đồ số 08, diện tích 238,7m² (trong đó: đất ở là 200m², đất lâu năm khác là 38,7m²), tọa lạc Khóm C, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi cha mẹ chết để lại di sản này cho 03 chị em bà L, bà Q và bà N đồng đứng tên sở hữu, sử dụng chung và được UBND thành phố S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng vào ngày 18/11/2015.
Nay phía bị đơn bà Q đồng ý chia tài sản là nhà, đất trên thành 03 phần bằng nhau cho bà L, bà Q và bà N. Bà Q chỉ đồng ý nhận giá trị và giao nhà, đất cho phía nguyên đơn, bà Q không nhận nhà và đất.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị N là: Bà Nguyễn Thị Lam T trình bày:
Bà N thống nhất theo ý kiến trình bày của phía nguyên đơn, bị đơn về phần tài sản tranh chấp là hai căn nhà cấp 4 gắn liền với phần đất tại thửa đất số 07, thuộc tờ bản đồ số 08, diện tích 238,7m² (trong đó: đất ở là 200m², đất lâu năm khác là 38,7m²), tọa lạc Khóm C, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi cha mẹ chết để lại di sản này cho 03 chị em bà L, bà Q và bà N đồng đứng tên sở hữu, sử dụng chung và được UBND thành phố S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng vào ngày 18/11/2015.
Nay phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng ý chia tài sản là nhà, đất trên thành 03 phần bằng nhau cho bà L, bà Q và bà N. Bà N đồng ý nhận giá trị và giao nhà, đất cho phía nguyên đơn.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Nguyễn Thị Thu N1, ông Huỳnh Quốc V, ông Huỳnh Quốc D1, bà Huỳnh Lý Kim V1: Thống nhất với ý kiến và yêu cầu của nguyên đơn.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Thanh L2, bà Nguyễn Thị Thu H, ông Nguyễn Thanh T2 và bà bà Nguyễn Ngọc Như Ý đã được Tòa án Tòa án tổng đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, nhưng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như tham gia phiên Tòa, nhưng đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử tiến hành nghị án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục tố tụng. Đối với những người tham gia tố tụng thì trước và tại phiên tòa hôm nay chấp hành đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục tại phiên tòa. Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Thanh L2, bà Nguyễn Thị Thu H, ông Nguyễn Thanh T2, bà Nguyễn Ngọc Như Ý đã không chấp hành việc có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về nội dung, Vị đại diện Viện kiểm sát nêu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Trịnh Thị L khởi kiện bị đơn bà Trịnh Thị Q yêu cầu Tòa án chia tài sản chung là 02 căn nhà cấp 4 gắn liền với phần đất có diện tích 238,7m², tại thửa đất số 07, tờ bản đồ số 08, tọa lạc đường L, Khóm C, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp dân sự về chia tài sản thuộc sở hữu chung được quy định tại Điều 219 Bộ luật dân sự 2015. Bị đơn cư trú tại thành phố S nên căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng.
[2] Về sự vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Thanh L2, bà Nguyễn Thị Thu H, ông Nguyễn Thanh T2, bà Nguyễn Ngọc Như Ý đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[3] Tại phiên tòa, các bên thống nhất Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án và Sơ đồ hiện trạng thửa đất của Công ty TNHH H2. Cụ thể như sau: Phần đất tại thửa đất số 07, tờ bản đồ số 08, tọa lạc đường L, Khóm C, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB379513, số vào sổ cấp GCN: CH03035 do UBND thành phố S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho bà Trịnh Thị Q đại diện đứng tên vào ngày 18/11/2015 có diện tích: 238,7m², (trong đó có 7,4m² diện tích đất thuộc hành lang lộ giới đường L). Phần đất có vị trí tứ cận như sau: Hướng Đông giáp thửa số 08 N, có số đo: 36,94m; Hướng Tây giáp thửa số 49 Nhà kho, có số đo: 36,32m; Hướng Nam giáp 49 Nhà kho, có số đo: 6,29m; Hướng Bắc giáp đường L, có số đo: 6,35m.
Tài sản gắn liền trên đất gồm: Căn nhà số C, đường L, Khóm C, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nhà chính phía trước: Nhà trệt diện tích 60m², kết cấu: Nền lát gạch men, vách tường gạch, khung bê tông cốt thép, mái lợp tôn. Căn nhà chứa đồ phía sau: Diện tích 50,4m², kết cấu: Nền lát gạch men + nền bê tông xi măng, vách tường gạch, khung bê tông cốt thép, mái lợp tôn. Mái che phía trước: Diện tích 29,5m², kết cấu: Nền bê tông xi măng, khung cột bê tông cốt thép + khung gỗ, vách tôn + lưới B40, mái lợp tôn, cửa rào sắt. Nhà vệ sinh: Diện tích 3,74m², kết cấu: Nền lát gạch men, vách tường gạch, mái lợp tôn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 92, Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án và Sơ đồ hiện trạng thửa đất của Công ty TNHH H2 để làm cơ sở giải quyết vụ án.
[4] Về giá trị tài sản tranh chấp. Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự thống nhất với giá trị định giá theo chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần T3 cung cấp. Tuy nhiên, tại phiên tòa các đương sự thỏa thuận nhà, đất tranh chấp có trị giá tổng cộng là 5.210.000.000 đồng (trong đó phần tài sản gắn liền trên đất có giá 210.000.000 đồng, phần đất có giá 5.000.000.000 đồng). Do thỏa thuận này hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản. Nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định giá trị tài sản tranh chấp là 5.210.000.000 đồng để làm cơ sở giải quyết vụ án.
[5] Theo thừa nhận của các bên đương sự và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện, hai căn nhà cấp 4 gắn liền với phần đất có diện tích: 238,7m², tại thửa đất số 07, tờ bản đồ số 08, tọa lạc đường L, Khóm C, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng có nguồn gốc là của cụ Trịnh Văn H1 và cụ bà Nguyễn Thị L3 sau khi chết. Hai cụ để lại di sản này cho ba người con là bà Trịnh Thị L, Trịnh Thị Q, Trịnh Thị N đồng đứng tên sở hữu, sử dụng chung và được UBND thành phố S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng vào ngày 18/11/2015. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định các tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh.
[6] Quá trình giải quyết vụ án, các bên đều thống nhất phân chia nhà và đất trên thành 3 phần bằng nhau cho bà Trịnh Thị L, bà Trịnh Thị Q và bà Trịnh Thị N nên Hội đồng xét xử ghi nhận chia khối tài sản chung nhà và đất trên theo giá thỏa thuận của các đương sự là 5.210.000.000 đồng : 3 = 1.736.666.666 đồng.
[7] Quá trình giải quyết vụ án, các bên đều không có yêu cầu đối với phần công sức đóng góp, tu bổ vào tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết vấn đề này. Đồng thời, không có đương sự nào yêu cầu nhận hiện vật nên Hội đồng xét xử chia trị giá bằng tiền cho các bên và chia mỗi người được hưởng theo tỷ lệ để đảm bảo quyền lợi của các bên ở giai đoạn thi hành án.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, thì nguyên đơn bà Trịnh Thị L, bị đơn bà Trịnh Thị Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị N mỗi người phải chịu án phí sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản được hưởng trong khối tài sản chung. Tuy nhiên, do bà L, bà Q và bà N là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết này, bà L, bà Q và bà N được miễn nộp tiền án phí.
[10] Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, thẩm định số tiền 10.350.000 đồng và chi phí định giá tài sản số tiền là 15.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền 25.350.000 đồng. Căn cứ khoản 2 Điều 157 và khoản 2 Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự thì nguyên đơn bà Trịnh Thị L, bị đơn bà Trịnh Thị Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị N mỗi người phải chịu số tiền 8.450.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92 điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 157, khoản 2 Điều 165, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ: Điều 207, 209, 219 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Căn cứ: Điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thị L. Chia tài sản chung của bà Trịnh Thị L, bà Trịnh Thị Q và bà Trịnh Thị N, gồm: Phần đất có diện tích 238,7m², (trong đó có 7,4m² diện tích thuộc hành lang lộ giới đường L) tại thửa đất số 07, tờ bản đồ số 08, tọa lạc đường L, Khóm C, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB379513, số vào sổ cấp GCN: CH03035 do UBND thành phố S cấp cho bà Trịnh Thị Q là đại diện cho nhóm người được thừa kế gồm Trịnh Thị N và Trịnh Thị L vào ngày 18/11/2015. Phần đất có số đo, vị trí như sau: Hướng Đông giáp thửa số 08 N, có số đo: 36,94m; Hướng Tây giáp thửa số 49 Nhà kho, có số đo: 36,32m; Hướng Nam giáp 49 Nhà kho, có số đo: 6,29m; Hướng Bắc giáp đường L, có số đo: 6,35m.
- Bà Trịnh Thị L, bà Trịnh Thị Q và bà Trịnh Thị N mỗi người được hưởng một phần tài sản chung bằng 1/3 giá trị tài sản chung tương đương số tiền là 1.736.666.666 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Trịnh Thị L, bị đơn bà Trịnh Thị Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị N thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 25.350.000 đồng. Bà Trịnh Thị L, bà Trịnh Thị Q, bà Trịnh Thị N mỗi người phải chịu số tiền 8.450.000 đồng. Do nguyên đơn bà Trịnh Thị L nộp tạm ứng chi phí tố tụng, nên bị đơn Trịnh Thị Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị N mỗi người có trách nhiệm trả cho bà L số tiền 8.450.000 đồng.
- Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Tài sản gắn liền trên đất là căn nhà số C, đường L, Khóm C, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Gồm: Nhà chính phía trước: Nhà trệt diện tích 60m², kết cấu: Nền lát gạch men, vách tường gạch, khung bê tông cốt thép, mái lợp tôn.
Căn nhà chứa đồ phía sau: Diện tích 50,4m², kết cấu: Nền lát gạch men + nền bê tông xi măng, vách tường gạch, khung bê tông cốt thép, mái lợp tôn. Mái che phía trước: Diện tích 29,5m², kết cấu: Nền bê tông xi măng, khung cột bê tông cốt thép + khung gỗ, vách tôn + lưới B40, mái lợp tôn, cửa rào sắt. Nhà vệ sinh: Diện tích 3,74m², kết cấu: Nền lát gạch men, vách tường gạch, mái lợp tôn.
Trường hợp giá trị của tài sản chung nêu trên có thay đổi ở giai đoạn thi hành án thì phần tài sản mà bà Trịnh Thị L, bà Trịnh Thị Q, bà Trịnh Thị N được hưởng cũng thay đổi tương ứng với phần tài sản mà mỗi người được hưởng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Lê Phước Tài |
Bản án số 110/2024/DS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp chia tài sản chung
- Số bản án: 110/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tc chia tài sản chung
