Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/HS-ST

Ngày: 15-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thúy Ái

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Vân.
  2. Ông Thái Văn Sơn.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trương Văn Bé-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoài Bảo-Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 99/2024/HSST ngày 11 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Huỳnh Văn C, sinh năm: 1990 tại tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nam; nơi thường trú: Tổ C, ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở hiện nay: Số G, đường số B, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Huỳnh Văn T, sinh năm: 1971 và bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm: 1974; bị cáo có vợ tên Lê Thị Kiều Q, sinh năm: 1991, có 02 lớn nhất sinh năm 2021, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án: Không; tiền sự: Không.
  2. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện có mặt tại phiên tòa.
  3. Họ và tên: Trịnh Vinh P, sinh năm: 1971 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Số F Quốc lộ B, Khu phố E, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Giáo viên dạy lái xe; con ông Trịnh Mộc M (đã chết) và bà Huỳnh Thị M1 (đã chết); bị cáo có vợ tên Huỳnh Thị N, sinh năm: 1971, có 02 con, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1992; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Cháu Trần Thị Thùy D, sinh ngày 11/8/2005 (đã chết);

Người đại diện hợp pháp của cháu D: Bà Phùng Thị L1, sinh năm: 1984 (Có mặt). Địa chỉ: Tổ C, ấp C, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Cháu Trần Thị Ngọc D1, sinh ngày 20/02/2008 (Vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp cho cháu D1: Bà Phùng Thị L1, sinh năm: 1984 (Có mặt). Địa chỉ: Tổ C, ấp C, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Ông Võ Thanh T1, sinh năm: 1985 (Vắng mặt). Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tạm trú: Số C M-T, phường B, Thành phố T, tỉnh Bình Dương.

3/ Trung tâm G. Địa chỉ: Số A Hồ N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1960 (Xin vắng mặt). Địa chỉ: Số H Đ, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Nguyễn Đức H1, Văn phòng L2, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (Vắng mặt). Địa chỉ: Số C P, phường T, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Vinh P làm việc tại Trung tâm G tại địa chỉ ấp N, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, đến đầu tháng 3/2023 P được Giám đốc Sở Giao thông Vận tải Thành phố H cấp giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe ô tô hạng D, P đủ điều kiện và có ký hợp đồng với Trung tâm làm giáo viên dạy lái xe cho học viên học lái xe các hạng B và C. Trung tâm có bàn giao cho P 01 xe ô tô tải tập lái biển số 51D-737.04 để tự quản lý. Có khi P để xe tại Trung tâm hoặc để xe tại nhà số F Quốc lộ B, khu phố E, thị trấn C, huyện C nhằm mục đích dạy lái xe cho các học viên theo sự phân công của Trung tâm trong đó có Võ Thanh T1.

Huỳnh Văn C ký hợp đồng lao động với Trung tâm G thời gian 06 tháng từ ngày 05/01/2023 đến ngày 04/6/2023 công việc cụ thể là lái xe và làm công việc khác theo sự phân công của Trung tâm, không được dạy lái xe cho học viên do C chưa đủ điều kiện.

Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 24/3/2023, C đến uống cà phê tại đối diện nhà của P, khoảng 10 phút sau học viên T1 đến để chờ P hướng dẫn lái xe thực hành đường trường. P kêu C lái xe ô tô tải tập lái biển số 51D-737.04 đi đổ dầu, sau khi đổ dầu xong C nói với P để C hướng dẫn cho học viên T1 chạy thực hành đường trường thì P đồng ý mặc dù P biết rõ C chưa có giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe theo quy định. Cạnh ngồi ghế bên phải hướng dẫn cho học viên Võ Thanh T1 trực tiếp điều khiển xe ô tô tải tập lái biển số 51D-737.04 chạy qua các tuyến đường khu vực xã N và các xã lân cận trên địa bàn huyện C. Đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, C tiếp tục hướng dẫn học viên T1 trực tiếp điều khiển xe lưu thông trên đường C hướng từ xã P đi xã A. Cảnh biết tuyến đường này không nằm trong danh sách các tuyến đường được phép tập lái xe cấp cho xe ô tô tải tập lái biển số 51D-737.04 nhưng do thấy đường vắng nên hướng dẫn học viên T1 chạy vào. Khi đến giao lộ giữa đường C với đường N thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 63B5-399.85 do Trần Thị Thùy D, sinh ngày 11/8/2005, nơi thường trú: Tổ C, ấp C, xã A, huyện C điều khiển chở phía sau Trần Thị Ngọc D1, sinh ngày 20/02/2008 lưu thông trên đường N hướng từ Tỉnh lộ 15 đi đường C (hướng đến từ bên phải xe ô tô tải tập lái biển số 51D-737.04). Hậu quả D bị chấn thương sọ não, tử vong ngày 28/3/2023 tại Bệnh viện Đ1, D1 bị thương tích nhưng có đơn từ chối giám định thương tích.

Hiện trường của đoạn đường nơi xảy ra tai nạn tại giao lộ đường C và Nguyễn Thị S, ghi nhận đoạn đường C nơi xảy ra tai nạn được trải nhựa tương đối bằng phẳng, có vạch phân chia làn đường màu trắng không liên tục, áp dụng xe lưu thông hai chiều, phần đường hướng từ xã P đi xã A, huyện C rộng 02m70, hướng ngược lại rộng 03m30, hai bên đường là nhà dân. Đường Nguyễn Thị S được trải nhựa tương đối bằng phẳng, không có vạch phân chia làn đường, áp dụng cho xe lưu thông hai chiều, hai bên đường là nhà dân. Ghi nhận đoạn đường giao giữa đường C và đường N lề phải đường C hướng xã P đi xã A và lề phải đường Nguyễn Thị S hướng Tỉnh lộ 15 đi hướng đường C giao thành 01 góc 10m x 7m x 10m20. Ghi nhận bên trong lề phải đường C hướng từ xã P đi xã A cách vị trí nơi xảy ra tai nạn 500m có biển báo hiệu “Đường giao nhau".

Kết luận giám định tử thi số 2876-23/KL-KTHS ngày 06/4/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Nguyên nhân chết của Trần Thị Thùy D là do chấn thương sọ não.

Kết luận giám định số 2646/KL-KTHS ngày 16/5/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

  • “- Dấu vết trượt xước, biến dạng, gãy vỡ, bám chất màu đen và màu đỏ các chi tiết bên phải phía trước xe ô tô biển số 51D-737.04 (cản trước, biển số, mặt ca lăng, đèn chiếu sáng phía trước) có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước, gãy vỡ, mất chất màu đen và màu đỏ các chi tiết phía trước và bên trái xe mô tô biển số 63B5-399.85 (lốp bánh trước, cung trước chắn bùn bánh trước, mặt nạ, ốp nhựa đầu xe, hệ thống đèn chiếu sáng phía trước, đầu tay lái, cánh yếm bên trái) có chiều từ trái sang phải.
  • - Dấu vết trượt xước, bám chất màu đen các chi tiết bên phải xe ô tô biển số 51D-737.04 (ốp nhựa bậc lên xuống cabin đầu xe, má ngoài lốp bánh trước, phía trước thùng xe) có chiều từ trước về sau, dấu vết trên bánh xe có chiều từ mặt lăn vào tâm phù hợp với dấu vết trượt xước, mất chất màu đen các chi tiết bên trái xe mô tô biển số 63B5-399.85 (để chân trước, để chân sau, giá cố định để chân sau, phía sau đầu tay lái) có chiều từ sau về trước.
  • - Tại thời điểm xảy ra tai nạn xe ô tô biển số 51D-737.04 chuyển động trên đường C theo hướng từ xã P đi xã A, xe mô tô biển số 63B5-399.85 chuyển động trên đường N theo hướng từ Tỉnh lộ 15 đi C.
  • - Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển số 51D-737.04 và xe mô tô biển số 63B5-399.85 chiếu xuống mặt đường nằm tại giao lộ giữa đường C và đường N.
  • - Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển số 51D-737.04, xe mô tô biển số 63B5-399.85 với phương tiện hay vật cản khác”.

Vật chứng vụ án: 01 xe ô tô tải tập lái biển số 51D-737.04 và 01 xe mô tô biển số 63B5-399.85. Ngày 26/6/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.

Về dân sự: Huỳnh Văn C, Trịnh Vinh P và ông Nguyễn Văn H là Giám đốc Trung tâm G đã bồi thường cho gia đình nạn nhân tổng số tiền 415.000.000đ. Đại diện gia đình nạn nhân có đơn bãi nại, cam kết không thắc mắc, khiếu nại.

Tại Cáo trạng số 100/CT-VKS.CC ngày 10/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyên Củ Chi truy tố bị cáo Huỳnh Văn C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và truy tố bị cáo Trịnh Vinh P về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo Điểm a Khoản 1 Điều 264 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa bị cáo Trịnh Vinh P thừa nhận hành vi phạm tội và khai rằng: Bị cáo quen biết bị cáo C khoảng 03 năm do bị cáo C là con rễ của người bạn bị cáo và cùng làm tại Trung tâm G, bị cáo biết bị cáo C có bằng lái hạng FC nhưng không có Giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe. Bị cáo làm việc tại Trung tâm G từ năm 2019, đến tháng 10/2022 thì bị cáo ký hợp đồng với Trung tâm để làm giáo viên dạy lái xe cho học viên hạng B và hạng C với mức lương 4.500.000đ/tháng và 70.000đ/giờ dạy học viên thực hành đường trường. Ngày 01/3/2023 Trung tâm giao cho bị cáo 01 xe ô tô biển số 51D-737.04 cùng với các giấy tờ liên quan để quản lý nhằm mục đích phục vụ cho hướng dẫn lái xe cho các học viên theo sự phân công của Trung tâm. Ngày 21/3/2023 Trung tâm phân công cho bị cáo hướng dẫn học viên Võ Thanh T1 thực hành đường trường, bị cáo đã hướng dẫn cho học viên T1 chạy thực hành đường trường vào ngày này. Theo lịch phân công thì ngày 24/3/2023 bị cáo sẽ tiếp tục hướng dẫn cho học viên T1 chạy thực hành đường trường. Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 24/3/2023, bị cáo C đến uống cà phê tại quán cà phê gần nhà của bị cáo cùng với bị cáo, khoảng 10 phút sau thì học viên Võ Thanh T1 là học viên mới của bị cáo đến nhà bị cáo để chờ bị cáo hướng dẫn dạy lái xe thực hành đường trường, bị cáo kêu bị cáo C điều khiển xe ô tô biển số 51D-737.04 đi đổ dầu dùm bị cáo, sau đó bị cáo C điều khiển xe lại trước nhà bị cáo để giao xe cho bị cáo. Bị cáo C nói với bị cáo để hôm nay bị cáo C hướng dẫn dạy cho học viên T1 chạy xe thực hành đường trường thì bị cáo đồng ý do cũng muốn giúp bị cáo C có thêm thu nhập, bị cáo giao xe ô tổ tải biển số 51D-747.04 cho bị cáo C để hướng dẫn T1 chạy thực hành đường trường, bị cáo nói với học viên T1 là hôm nay thầy C sẽ hướng dẫn chạy đường trường, bị cáo dặn học viên T1 là cẩn thận. Đến 15 giờ 00 phút cùng ngày bị cáo C điện thoại cho bị cáo biết là xe ô tô tải tập lái biển số 51D-747.04 gây tai nạn tại đường C thuộc xã A, huyện C, bị cáo kêu bị cáo C cấp cứu người bị nạn, bị cáo chạy đến hiện trường thì biết học viên T1 điều khiển xe ô tô tải biển số 51D-747.04 gây tai nạn làm chết người. Bị cáo cùng với bị cáo C và Trung tâm đến gia đình bị hại xin lỗi và bồi thường thiệt

hại cho gia đình bị hại số tiền 415.000.000đ, mẹ của cháu D là chị Phùng Thị L1 đã làm đơn bãi nại cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Văn C thừa nhận hành vi phạm tội và khai rằng: Bị cáo mới ký hợp đồng lao động với Trung tâm G vào ngày 05/01/2023 với nhiệm vụ là tài xế xe và làm một số công việc lặt vặt khác. Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 24/3/2023, bị cáo đến uống cà phê tại quán cà phê gần nhà của bị cáo P, khoảng 10 phút sau thì có học viên Võ Thanh T1 đến. Bị cáo nói với bị cáo P để hôm nay bị cáo hướng dẫn dạy cho học viên T1 chạy xe thực hành đường trường thì bị cáo P đồng ý, bị cáo hướng dẫn cho học viên T1 điều khiển xe ô tô tải biển số 51D-747.04 chạy thực hành đường trường, bị cáo là giáo viên trợ lái. Đến 14 giờ 40 phút, T1 cùng bị cáo điều khiển xe ô tô lưu thông trên đường C đến giao lộ giữa đường C với đường N thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 63B5-399.85, bị cáo cùng với bị cáo P và Trung tâm đã đến gia đình bị hại xin lỗi và bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 415.000.000đ, mẹ của cháu D là chị Phùng Thị L1 đã làm đơn bãi nại cho bị cáo.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại Trần Thị Thùy D là bà Phùng Thị L1 trình bày: Chồng bà mất, bà phải đi làm xa để nuôi 02 con, việc con bà tự lấy xe máy để điều khiển tham gia giao thông bà không biết, dẫn đến xảy ra tai nạn. Bà đã được các bị cáo bồi thường thiệt hại và không yêu cầu gì thêm, con bà mất thì cũng đã mất rồi, không ai mong muốn xảy ra chuyện này, bà xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng Điều 38, Điểm a Khoản 1 Điều 260, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 2, Điều 4, Điều 5, Điều 6 và Điều 7 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C1 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (H2) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 03 (Ba) năm đến 04 (Bốn) năm.
  • - Áp dụng Điều 36, Điểm a Khoản 1 Điều 264, Điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trịnh Vinh P 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) cải tạo không giam giữ về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
  • - Về trách nhiêm dân sự: Đã giải quyết xong nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
  • - Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chủ sở hữu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

Bị cáo Huỳnh Văn C không tranh luận và không tự bào chữa.

Bị cáo Trịnh Vinh P không tranh luận và không tự bào chữa.

Bị cáo Huỳnh Văn C nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của bị cáo đã gây ra, sau khi gây tai nạn, Trung tâm G nơi bị cáo làm việc đã chấm dứt hợp đồng với bị cáo, bị cáo đang nuôi 02 con nhỏ, vợ bị cáo không có việc làm, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện cùng vợ chăm sóc cho con nhỏ.

Bị cáo Trịnh Vinh P nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của bị cáo đã gây ra, sau khi gây tai nạn, Trung tâm G nơi bị cáo làm việc đã chấm dứt hợp đồng với bị cáo, đây là bài học lớn trong đời bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Trung tâm G có ông Nguyễn Văn H làm đại diện theo pháp luật có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về tội danh; điều luật áp dụng; tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Bị cáo Huỳnh Văn C không có Giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe theo quy định, bị cáo có hành vi tự nhận là giáo viên bảo trợ tay lái để hướng dẫn học viên Võ Thanh T1 điều khiển xe ô tô tải biển số 51D-737.04 tham gia giao thông lưu thông trên đường C đến đường giao nhau không có báo hiệu đi theo vòng xuyến đã không nhường cho xe đi đến từ bên phải dẫn đến va chạm với xe mô tô biển số 63B5-399.85 do Trần Thị Thùy D điều khiển chở phía sau Trần Thị Ngọc D1, hậu quả D bị chấn thương sọ não tử vong ngày 28/3/2023, hành vi của bị cáo C đã vi phạm Khoản 24 Điều 8 và Khoản 1 Điều 24 của Luật giao thông đường bộ năm 2008. Bằng hành vi trên thì bị cáo C đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Trịnh Vinh P biết rõ bị cáo Huỳnh Văn C không có Giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe theo quy định mà lại giao xe ô tô tải biển số 51D-737.04 cho bị cáo C để làm giáo viên bảo trợ tay lái cho học viên Võ Thanh T1 thực hành đường trường dẫn đến va chạm xe ô tô biển số 63B5-399.85 do Trần Thị Thùy D điều khiển, dẫn đến D tử vong do chấn thương sọ não, hành vi của bị cáo P đã phạm vào tội

“Giao cho người không đủ điều khiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 264 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Từ các lý do trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và truy tố bị cáo P về tội “Giao cho người không đủ điều khiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của cháu D, gây mất trật tự trị an chung cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt của mọi người. Bị cáo P biết rõ bị cáo C chưa Giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe theo quy định nhưng lại giao xe cho bị cáo C để làm giáo viên trợ lái, bản thân bị cáo C chưa có Giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe theo quy định lại làm giáo viện trợ tay lái cho học viên Võ Thanh T1 dẫn đến phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần xử lý các bị cáo bằng một hình phạt là cần thiết.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho bị hại, được người đại diện hợp pháp của bị hại bãi nại, bị cáo P phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo C và áp dụng điểm Điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo P để xem xét quyết định về hình phạt cho các bị cáo là có căn cứ.

Xét bị cáo Huỳnh Văn C và bị cáo Trịnh Vinh P có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, từ lúc phạm tội cho đến nay, bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật của địa phương, chấp hành tốt lệnh triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng, các bị cáo có khả năng tự cải tạo bản thân, Hội đồng xét xử xét nếu không buộc bị cáo C chấp hành hình phạt tù thì cũng không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Do bị cáo C có đủ điều kiện quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử xét cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ. Đối với bị cáo P Hội đồng xét xử xét giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ để bị cáo cải tạo trở thành người công dân tốt cho xã hội. Vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi thường trú của bị cáo để giám sát, giáo dục cũng đủ để bị cáo tự cải tạo và đảm bảo tác dụng giáo dục riêng cũng như ngăn ngừa chung, đồng thời khấu trừ 10% thu nhập/tháng tương ứng với mức thu nhập hàng tháng của bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Văn C mức án từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 03 (Ba) năm đến 04 (Bốn) năm; xử phát bị cáo Trịnh Vinh P mức án từ 01 (Một) năm đến 02 (Hai) năm cải tạo không giam giữ. Xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về vật chứng vụ án:

01 xe ô tô tải biển số 51D-737.04 và 01 xe mô tô biển số 63B5-399.85 đều đã được trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về các vấn đề khác:

Ông Võ Thanh T1 là học viên học lái xe hạng C có hợp đồng đào tạo lái xe với Trung tâm G ngày 23/12/2022, thời gian đào tạo từ ngày 21/4/2022 đến 29/6/2023. Sở Giao thông vận tải Thành phố H phê duyệt danh sách, T1 tự học lý thuyết qua chương trình online tại nhà, Trung tâm thông báo cho ông T1 chạy thực hành đường trường từ ngày 23/3/2023, đến ngày 24/3/2023 trong lúc chạy thực hành đường trường trên xe tập lái biển số 51D-737.04 có sự bảo trợ tay lái của bị cáo C, đảm bảo điều kiện của người lái xe tham gia giao thông quy định tại Khoản 1 Điều 58 của Luật giao thông đường bộ, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xử lý là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xét.

Ông Nguyễn Văn H là giám đốc Trung tâm G, Trung tâm có hợp đồng giao xe ô tô tập lái biển số 51D-737.04 kèm theo danh sách 08 học viên học lái xe hạng C cho bị cáo P là giáo viên dạy lái xe chính thức, đủ điều kiện để dạy lái xe cho học viên của Trung tâm. Ngày 24/03/2023 ông H không biết bị cáo P giao xe cho bị cáo C làm giáo viên trợ lái cho học viên Võ Thanh T1 dẫn đến tai nạn, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xử lý ông H là phù hợp, Hội đồng xét xử không xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận bồi thường và không có yêu cầu thêm gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

[8] Về nghĩa vụ chịu án phí:

Buộc các bị cáo Huỳnh Văn CTrịnh Vinh P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; bị cáo Trịnh Vinh P phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

  1. Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 2, Điều 4, Điều 5, Điều 6 và Điều 7 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn C 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 03 (Ba) năm kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Huỳnh Văn C cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Huỳnh Văn C thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Áp dụng Đ a Khoản 1 Điều 264; Điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trịnh Vinh P 01 (Một) năm cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Trịnh Vinh P cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục người đó.

Trong thời gian chấp hành án, bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ 10% mức thu nhập là 450.000₫ (Bốn trăm năm mươi ngàn đồng). Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng. Trường hợp bị cáo Trịnh Vinh P không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (Bốn) giờ trong một ngày và không quá 05 (Năm) ngày trong 01 tuần. Bị cáo phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định tại Luật Thi hành án Hình sự năm 2020.

  1. Căn cứ vào Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1;

Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo Huỳnh Văn C và bị cáo Trịnh Vinh P mỗi bị cáo phải chịu là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

  1. Trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc ngày niêm yết.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Huỳnh Văn C).

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Công an huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Thúy Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự

  • Số bản án: 110/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger