Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH CỬU

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 110/2024/HS-ST

Ngày 14/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Ông Huỳnh Bình
  • + Ông Nguyễn Ngọc Anh

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Hoàng – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Bắc – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 104/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Võ Thanh H, sinh năm 1981, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Thanh S (đã chết) và bà Lê Thị Kim L (còn sống); có vợ tên Huỳnh Thị H1 và 02 (hai) con; Tiền sự: Không;

Tiền án:

  • + Năm 1999 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; bị cáo chưa nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Nhân thân:

  • + Ngày 05/10/2000 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử phạt 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”.
  • + Ngày 10/02/2004 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử phạt 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • + Ngày 29/4/2011 bị Chủ tịch UBND huyện V, tỉnh Đồng Nai quyết định đưa vào Trung tâm G để chữa bệnh bắt buộc.
  • + Ngày 10/01/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/02/2024, chuyển tạm giam đến nay (có mặt).

2. Trương Công T, sinh năm 1993, tại Quảng Nam; nơi thường trú: thôn T, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: Ấp D, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: quản lý nhà nghỉ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Công T1 (còn sống) và bà Nguyễn Thị H2 (còn sống); có vợ Đỗ Thị Thu V (đã ly hôn); Tiền án: không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/02/2024, chuyển tạm giam đến nay (có mặt).

  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Trương Minh H3, sinh năm 1966

Nơi cư trú: ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

  • * Người làm chứng: bà Nguyễn Thị Hồng A, sinh năm 2001

Nơi cư trú: ấp F, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Thanh H là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. H thông qua bạn bè biết đối tượng B (không rõ họ, địa chỉ) bán ma túy Methamphetamine tại khu vực cầu B, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 20/02/2024, H có nhu cầu sử dụng ma túy nên đến nhà nghỉ L2 thuộc ấp D, xã T, huyện V do Trương Công T làm quản lý để sử dụng. T biết H nhiều lần đến thuê phòng nhà nghỉ L2 sử dụng ma túy và được H cho sử dụng ma túy chung nên T đồng ý cho H thuê phòng 209. Sau đó, H điều khiển xe mô tô Exciter biển số 70E1-319.06 đến khu vực cầu B mua của B 2.700.000 đồng ma túy đá đựng trong túi zip giấu trong người đem về phòng 209 nhà nghỉ L2. H lấy 01 phần ma túy trong túi zip chia thành 17 bịch nhỏ, phần còn lại H giấu trong túi áo để trên ghế trong phòng 209, mục đích sử dụng. H lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy chuẩn bị trước đó, bỏ 01 bịch ma túy nhỏ vào tẩu nung nóng và sử dụng hết. H thông qua ứng dụng zalo trên điện thoại Oppo F5 gọi cho Nguyễn Thị Hồng A đến sử dụng ma túy, A đồng ý. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Nguyễn Thị Hồng A điều khiển xe mô tô Vario biển số 60B9-729.03 đến Nhà nghỉ L2 và lên phòng 209, H lấy 03 bịch ma túy nhỏ đổ vào bộ dụng cụ nung nóng và cùng Nguyễn Thị Hồng A sử dụng. Đến khoảng 23 giờ 27 phút cùng ngày, H nhắn tin vào tài khoản zalo L3 rủ T lên phòng 209 để cùng sử dụng ma túy, T đồng ý. Một lúc sau, T vào phòng 209 cầm bộ dụng cụ bật lửa đốt ma túy và sử dụng 02, 03 hơi rồi đi ra ngoài. Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 22/02/2024, lực lượng Công an huyện V phối hợp Công an xã T kiểm tra hành chính nhà nghỉ L2 phát hiện tại phòng 209 có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, phát hiện trong túi áo của H đang để trên ghế có 02 túi zip trong đó có 01 túi zip chứa tinh thể màu trắng và 01 túi zip đựng 13 bịch nilong hàn kín hai đầu, bên trong mỗi bịch nilong chứa tinh thể màu trắng, H khai là ma túy để sử dụng vào các ngày sau. Lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Võ Thanh H, thu giữ tang vật lập hồ sơ xử lý theo quy định pháp luật.

Lúc 20 giờ 40 phút ngày 22/02/2024, Trương Công T đến Công an thị trấn V đầu thú về hành vi cung cấp địa điểm cho H, Anh sử dụng ma túy. Lực lượng Công an lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V giải quyết theo quy định pháp luật.

  • * Tang vật, tài sản thu giữ: 01 túi zip chứa tinh thể màu trắng (đã niêm phong); 01 túi zip chứa 13 bịch nilong được hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng (đã niêm phong); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 tẩu thủy tinh bên trong bám chất mềm màu trắng (đã niêm phong), 01 bình thủy tinh, 01 ống hút; 01 bật lửa; 01 xe mô tô Vario biển số 60B9-729.03; 01 xe mô tô Exciter biển số 70E1-319.06; 01 điện thoại di động Masstel; 01 điện thoại di động Oppo F5.

Tại Kết luận giám định số 396/KL-KTHS ngày 28/02/2024 của Giám định viên Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

  • + Mẫu tinh thể màu trắng (Ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 6,976gam loại Methamphetamine.
  • + Mẫu chất màu trắng (Ký hiệu M2) bám dính trong có 01 nỏ thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.

H4 lại đối tượng còn lại sau giám định trong niêm phong số 396/KL-KTHS (Bút lục số: 21).

Kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 22/02/2024 của Trạm y tế xã T xác nhận Võ Thanh H, Trương Công T, Nguyễn Thị Hồng A dương tính với ma túy loại Methamphetamine.

Kết quả xác minh xác định:

  • + Xe mô tô Exciter biển số 70E1-319.06 do Trần Thị L1, sinh năm 1964 ngụ ấp N, xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký. Năm 2020, H mua lại xe mô tô của người (không rõ họ tên, địa chỉ) không làm thủ tục sang tên. Ngày 20/02/2024, H điều khiển xe mô tô 70E1-319.06 đến thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã ủy thác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Tây Ninh làm việc với bà L1 nhưng chưa có kết quả. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển Công an huyện V tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định pháp luật.
  • + Xe mô tô Vario biển số 60B9-729.03 do Nguyễn Thị Hồng A đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký. Ngày 20/02/2024, A điều khiển xe mô tô đến phòng 209 nhà nghỉ L2 sử dụng ma túy cùng Võ Thanh H.

(Bút lục số: 103-104, 147-149)

Xử lý tang vật, tài sản tạm giữ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã giao trả: xe mô tô Vario biển số 60B9-729.03 và 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax cho Nguyễn Thị Hồng A. (Bút lục số: 152-152a).

Quá trình điều tra cũng như quá trình xét xử, các bị cáo không có ý kiến gì về Bản kết luận giám định của Công an tỉnh Đ.

Quá trình điều tra chưa xác định được họ, địa chỉ đối tượng bán trái phép chất ma túy cho Võ Thanh H.

Ông Trương Minh H3 là chủ sở hữu nhà nghỉ L2, không biết bị cáo Trương Công T chứa chấp các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy.

Công an huyện V đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị Hồng A về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

Cáo trạng số 114/CT-VKSVC ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Võ Thanh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); truy tố bị cáo Trương Công T về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy" theo điểm d khoản 2 Điều 256 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Đối với Võ Thanh H: căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đề nghị xử phạt bị cáo 06 (sáu) năm đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 (hai) tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung.

  • + Đối với Trương Công T: căn cứ điểm d khoản 2 Điều 256; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 (đầu thú) của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Trương Công T phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt bị cáo từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

  • + Tịch thu tiêu hủy đối tượng còn lại sau giám định trong niêm phong số 396/KL-KTHS; 01 bình thủy tinh, 01 ống hút nhựa và 01 bật lửa.
  • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Oppo F5.
  • + Giao trả 01 điện thoại di động Masstel cho Võ Thanh H.

- Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng:

  • + Bị cáo H: Bị cáo đã biết sai, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo về với gia đình.
  • + Bị cáo T: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về làm công dân có ích cho xã hội, cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, đã có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 20/02/2024, Võ Thanh H thuê phòng tại nhà nghỉ L2 do Trương Công T quản lý. Võ Thanh H gọi điện thoại rủ Nguyễn Thị Hồng A và cung cấp ma túy cho Hồng A, Trương Công T sử dụng. Trương Công T biết H thuê phòng nhà nghỉ để HHồng A sử dụng trái phép chất ma túy. Đồng thời, tại phòng trọ, H có hành vi tàng trữ trái phép 6,976 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích sử dụng.

Bị cáo Võ Thanh H có hành vi tàng trữ khối lượng 6,976gam ma túy, loại Methaphetamine với mục đích để sử dụng nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Bị cáo rủ rê Hồng A, cung cấp ma túy cho Hồng A, T sử dụng trái phép chất ma túy nên đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bị cáo Trương Công T biết Võ Thanh H thuê phòng nhà nghỉ do bị cáo quản lý để sử dụng trái phép ma túy nhưng vẫn cho H thuê phòng nghỉ để Võ Thanh H, Nguyễn Thị Hồng A trực tiếp sử dụng trái phép chất ma túy nên đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng các loại chất cấm của Nhà nước. Do đó, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.

Bị cáo Võ Thanh H phạm nhiều tội, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) để tổng hợp hình phạt và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

  • + Bị cáo Võ Thanh H: tái phạm theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • + Bị cáo Trương Công T: Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú (áp dụng đối với bị cáo Trương Công T) là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả xe mô tô Vario biển số 60B9-729.03 và 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax cho chị Nguyễn Thị Hồng A do không liên quan đến việc phạm tội là đúng quy định của pháp luật.

Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển Công an huyện V tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định pháp luật đối với xe mô tô Exciter biển số 70E1-319.06 nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: số ma túy còn lại sau giám định trong niêm phong số 396/KL-KTHS; 01 bình thủy tinh, 01 ống hút nhựa và 01 bật lửa.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Oppo F5.
  • - Trả lại cho Võ Thanh H 01 điện thoại di động Masstel.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Ông Trương Minh H3 là chủ sở hữu nhà nghỉ L2, không biết bị cáo Trương Công T chứa chấp các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy nên không phạm tội với vai trò đồng phạm.

Kiến nghị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ để xử lý đối với đối tượng bán ma túy cho Võ Thanh H theo quy định của pháp luật.

[8] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

1.1 Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Võ Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Võ Thanh H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 13 (mười ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/02/2024.

1.2 Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 256, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Trương Công T phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Trương Công T 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/02/2024.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu hủy: số ma túy còn lại sau giám định trong niêm phong số 396/KL-KTHS; 01 bình thủy tinh, 01 ống hút nhựa và 01 bật lửa.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Oppo F5.
  • - Trả lại cho Võ Thanh H 01 điện thoại di động Masstel.

Các vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Trương Minh H3 vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - VKSND huyện Vĩnh Cửu;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Vĩnh Cửu;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hồng Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai về vụ án hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 110/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Thanh H + ĐP
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger