TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH Bản án số: 110/2024/HS-ST Ngày: 12-11-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Tống Đức Hưởng;
Ông Võ Văn Hoa Vinh.
Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Sử Ngọc Quân, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Kiên Cường – Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 104/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Đỗ Văn P, sinh năm 2001 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn D và bà Nguyễn Thị Thu Ú; có vợ là Đỗ Thị G và 02 người con sinh năm 2020 và 2023; tiền án: Không có; tiền sự: Tại Quyết định số 222/QĐ-TA ngày 17/01/2023, bị cáo bị Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh xử phạt 8.400.000 đồng về hành vi Buôn bán hàng cấm, chưa nộp phạt; nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 103/2024/HS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã xử phạt bị cáo 03 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/6/2023 đến nay (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Võ Hoàng B, sinh năm 1995; địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Quá trình điều tra, bị cáo Đỗ Văn P khai nhận: Vào khoảng 7 giờ 30 phút ngày 24/3/2024, P nhận được cuộc điện thoại từ số 0338.062.xxx do người tên “B” gọi đến và hỏi P có đi chở thuốc lá không thì được P hỏi “01 chuyến bao nhiêu tiền”, B trả lời “200.000 đồng”, P đồng ý. B hẹn P đến ngã ba “C" thuộc ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh chờ B đến giao thuốc lá. Khoảng 15 phút sau, B chạy xe mô tô hiệu Sonic, biển số 70C-287.19 trên xe chở 02 bao tải màu vàng được cột dây phía sau. B nói với P “trên xe có hai bao tải chứa 80 cây thuốc lá hiệu Hero và 01 cây thuốc lá hiệu Jet” và kêu P chở số thuốc trên đến khu vực đường bê tông gần chợ T thuộc xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh thì có người đến nhận. Sau đó, P điều khiển xe mô tô chở 02 bao tải chứa thuốc lá đến địa điểm theo yêu cầu của B. Khi P chạy đến khu vực đường bêtông thuộc ấp T, xã T, huyện T thì bị lực lượng Công an bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Trước đó, ngày 17/01/2023, P đã bị Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 8.400.000 đồng về hành vi “Buôn bán hàng cấm” nhưng chưa nộp phạt.
Tại bản Cáo trạng số 106/CT-VKSTC ngày 01/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Đỗ Văn P về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Văn P phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Đề nghị:
- - Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Văn P từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù và tổng hợp với hình phạt 03 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 103/2024/HS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo vì không có tài sản để thi hành.
- - Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số thuốc lá điếu nhập lậu bị thu giữ; tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước điện thoại di động thu giữ của bị cáo; trả lại cho anh B xe mô tô bị thu giữ.
Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo thể hiện: Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ xác định: Bị cáo là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Buôn bán hàng cấm” vào ngày 17/01/2024, chưa nộp phạt, chưa hết thời hạn được xem là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Vào ngày 24/3/2024, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi vận chuyển 800 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero và 10 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet đi tiêu thụ. Khi bị cáo vận chuyển số thuốc lá điếu nhập lậu này đến khu vực ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh thì bị phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đỗ Văn P phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự như luận tội của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[3] Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với hàng hóa cấm kinh doanh; gây mất trật tự, trị an xã hội tại địa phương. Khi thực hiện tội phạm bị cáo biết rõ thuốc lá điếu nhập lậu là hàng hóa bị cấm kinh doanh và việc vận chuyển loại hàng hóa này là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra và cần xử lý tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
[4.1] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4.2] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
[5] Xét thấy, bị cáo có nhân thân xấu nên với hành vi phạm tội như trên của bị cáo cần xử phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[6] Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo không có tài sản để thi hành.
[7] Về xử lý vật chứng:
- [7.1] Đối với số thuốc lá bị thu giữ là hàng cấm, cần tịch thu tiêu hủy.
- [7.2] Đối với điện thoại di động thu giữ của bị cáo là công cụ phạm tội, cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
- [7.3] Đối với xe mô tô thu giữ của anh B, anh B khai nhận cho bị cáo mượn nhưng không biết bị cáo dùng vào việc vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, cần trả lại cho anh B là phù hợp.
[8] Đối với anh B, chỉ có lời khai của bị cáo P xác định anh B là người thuê bị cáo vận chuyển số thuốc lá trên đi tiêu thụ nhưng quá trình điều tra anh B không thừa nhận, không có chứng cứ khác để xác định anh B thuê bị cáo P vận chuyển số thuốc lá nêu trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý anh B là có căn cứ.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm e khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Văn P 06 (sáu) tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Căn cứ vào Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt 03 (ba) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 103/2024/HS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai Bản án là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/6/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 800 (tám trăm) bao thuốc lá điếu hiệu Hero và 10 (mười) bao thuốc lá hiệu Jet.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước điện thoại Nokia màu đen, số Imei: 354275380624197 thu giữ của bị cáo Đỗ Văn P.
- Trả lại cho anh Võ Hoàng B xe mô tô nhãn hiệu Honda Sonic mang biển số 70C1-287.19, số khung MH1KB1111Jk188186, số máy KB11E1188471.
(Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/10/2024).
- Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Đỗ Văn P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh B có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND H. Tân Châu; - CCTHA-DS H. Tân Châu; - CQĐT Công an H. Tân Châu; - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Công an tỉnh Tây Ninh – Phòng PV 06; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - THA phạt tù; - Lưu tập án, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Chung |
Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về vận chuyển hàng cấm (tội phạm hình sự)
- Số bản án: 110/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm (Tội phạm hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn P vận chuyển hàng cấm
