TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 110/2024/DS-ST Ngày: 12-9-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN
TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Sở
- Bà Lê Thị Đông
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trần Vy – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 423/2023/TLST – DS ngày 13 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2024/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1987
Địa chỉ: ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang. (có mặt)
- Bị đơn:
2.1. Ông Hồ Phước L1, sinh năm 1973
Địa chỉ: Số C H, Phường C, thành phố T, tỉnh Long An. (có mặt)
2.2. Bà Cao Thị H, sinh năm 1975
Địa chỉ: Số A T, Phường A, thành phố T, tỉnh Long An. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Bùi Văn T, sinh năm 1985
Địa chỉ: Số E ấp M, xã D, huyện C, tỉnh Long An. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ghi ngày 30 tháng 11 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc L trình bày: Vào ngày 09/6/2022 ông Hồ Phước L1 và bà Cao Thị H có vay của ông số tiền 3.000.000.000 đồng, thời hạn vay là 03 tháng, khi vay có làm Biên nhận tiền, không có thoả thuận về việc trả lãi trong Biên nhận vay tiền nhưng có thoả thuận tiền lãi ngoài giấy vay tiền là 5%/tháng. Từ khi vay tiền đến nay, ông L1 và bà H có trả cho ông số tiền lãi trong 08 tháng, mỗi tháng là 45.000.000 đồng (từ ngày 09/06/2022 đến ngày 09/02/2023), tổng số tiền lãi đã nhận là 360.000.000 đồng, có trả gốc được số tiền 1.760.000.000 đồng vào tháng 8/2023. Nay đã đến hạn trả nợ nhưng ông L1 và bà H không trả lại số tiền còn nợ cho ông.
Nay ông yêu cầu ông Hồ Phước L1 và bà Cao Thị H liên đới trả cho ông số tiền còn nợ là 1.240.000.000đ (Một tỷ hai trăm bốn mươi triệu đồng), không yêu cầu tính lãi. Yêu cầu ông Hồ Phước L1 và bà Cao Thị H liên đới trả số nợ trên một lần. Ông rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu ông L1 và bà H trả số tiền gốc vay 1.760.000.000đ.
* Tại các lời trình bày trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án, bị đơn ông Hồ Phước L1 trình bày: Ông và bà Cao Thị H có mượn của ông Bùi Văn T số tiền 3.000.000.000 đồng, ông T là người trực tiếp giao tiền cho ông và bà H, nhưng ông và bà H viết Giấy nợ (Biên nhận tiền) có nội dung là mượn số tiền trên của ông Nguyễn Ngọc L chứ không viết giấy nợ cho ông T, các bên có thoả thuận trả lãi vào ngày 01 tây và 15 tây hàng tháng, lãi suất thoả thuận là 5%/tháng, thời hạn vay là 03 tháng. Ông và bà H trả lãi của khoảng nợ 3.000.000.000đ do ông Bùi Văn T trực tiếp nhận và không có làm giấy giao nhận tiền, theo mức lãi suất 5%/tháng từ ngày tháng 09/6/2022 đến ngày 9/5/2023 trên số tiền gốc giảm dần theo các lần ông và bà H trả cho ông L, cụ thể:
- Từ 09/6/2022 đến 09/7/2022, trả lãi 150.000.000đ/tháng (tiền gốc 3.000.000.000đ), tổng 01 tháng là 150.000.000đ
- Từ tháng 09/7/2022 đến 09/9/2022, trả lãi 140.000.000đ/tháng (tiền gốc 2.800.000.000đ), tổng 02 tháng là 280.000.000đ
- Từ 09/9/2022 đến 09/03/2023, trả lãi 125.000.000đ/tháng (tiền gốc 2.500.000.000đ), tổng 06 tháng là 750.000.000đ
- Từ 09/3/2023 đến 09/5/2023, trả lãi 115.000.000đ/tháng (tiền gốc 2.300.000.000đ), tổng 02 tháng là 230.000.000đ
Ông và bà H có trả tổng số tiền gốc vay là 770.000.000đ cho số nợ của ông L bằng hình thức giao tiền cho ông T vào các lần như sau:
- Ngày 07/7/2022 trả 200.000.000đ, trả tiền mặt trực tiếp cho ông Bùi Văn T, không làm biên nhận tiền
- Ngày 9/9/2022 trả 300.000.000đ, trả tiền mặt trực tiếp cho ông Bùi Văn T, có làm biên nhận do ông Bùi Văn T ký tên.
- Tháng 3/2023 trả 200.000.000đ, trả tiền mặt trực tiếp cho ông Bùi Văn T, không làm biên nhận tiền
- Ngày 20/5/2023 trả 70.000.000đ, chuyển khoản cho Nguyễn Hoàng Sơn H1, số tài khoản tại Ngân hàng TMCP S 070112796485. Số tài khoản này do ông Bùi Văn T cung cấp cho ông và bà H và yêu cầu ông và bà H chuyển tiền trả nợ vào số tài khoản này. Ông không cung cấp được địa chỉ của người tên Nguyễn Hoàng Sơn H1.
Vào tháng 8/2023 ông và bà H có trả cho ông L số tiền nợ gốc là 1.760.000.000đ.
Nay ông xác định ông và bà Cao Thị H còn nợ ông Nguyễn Ngọc L số tiền 470.000.000đ. Ông đồng ý liên đới với bà Cao Thị H trả cho ông Nguyễn Ngọc L số tiền 470.000.000đ trong thời gian 03 tháng. Ông xác định Biên nhận tiền ngày 09/6/2022 là do ông viết, Chữ ký và chữ viết tại vị trí Người mượn tiền trong Biên nhận tiền nêu trên đúng là chữ ký của ông và bà Cao Thị H.
* Tại các lời trình bày trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án, bị đơn bà Cao Thị H trình bày: bà và ông Hồ Phước L1 có mượn của ông Bùi Văn T số tiền 3.000.000.000đ, ông T là người trực tiếp giao tiền cho bà và ông L1, nhưng bà và ông L1 viết Giấy nợ (Biên nhận tiền) có nội dung là mượn số tiền trên của ông Nguyễn Ngọc L chứ không viết giấy nợ cho ông T, các bên có thoả thuận trả lãi vào ngày 01 tây và 15 tây hàng tháng, lãi suất thoả thuận là 5%/tháng, thời hạn vay là 03 tháng, bà và ông L1 trả lãi như sau:
- Từ 09/6/2022 đến 09/7/2022, trả lãi 150.000.000đ/tháng (tiền gốc 3.000.000.000đ), tổng 01 tháng là 150.000.000đ
- Từ tháng 09/7/2022 đến 09/9/2022, trả lãi 140.000.000đ/tháng (tiền gốc 2.800.000.000đ), tổng 02 tháng là 280.000.000đ
- Từ 09/9/2022 đến 09/03/2023, trả lãi 125.000.000đ/tháng (tiền gốc 2.500.000.000đ), tổng 06 tháng là 750.000.000đ
- Từ 09/3/2023 đến 09/5/2023, trả lãi 115.000.000đ/tháng (tiền gốc 2.300.000.000đ), tổng 02 tháng là 230.000.000đ
Các lần trả lãi do ông Bùi Văn T trực tiếp nhận, không có làm giấy nhận tiền
B và ông L1 có trả tổng số tiền gốc vay là 770.000.000đ cho số nợ của ông L bằng hình thức giao tiền cho ông T vào các lần như sau:
- Ngày 07/7/2022 trả 200.000.000đ, trả tiền mặt trực tiếp cho ông Bùi Văn T, không làm biên nhận tiền
- Ngày 09/9/2022 trả 300.000.000đ, trả tiền mặt trực tiếp cho ông Bùi Văn T, có làm biên nhận do ông Bùi Văn T ký tên.
- Tháng 3/2023 trả 200.000.000đ, trả tiền mặt trực tiếp cho ông Bùi Văn T, không làm biên nhận tiền
- Ngày 20/5/2023 trả 70.000.000đ, chuyển khoản cho Nguyễn Hoàng Sơn H1, số tài khoản tại Ngân hàng TMCP S 070112796485. Số tài khoản này do ông Bùi Văn T cung cấp cho ông và bà H và yêu cầu ông và bà H chuyển tiền trả nợ vào số tài khoản này. Ông không cung cấp được địa chỉ của người tên Nguyễn Hoàng Sơn H1
Tháng 8/2023 bà và ông L1 có trả thêm cho ông L số tiền nợ gốc là 1.760.000.000đ.
Nay bà xác định bà và ông Hồ Phước L1 còn nợ ông Nguyễn Ngọc L số tiền 470.000.000đ. Bà đồng ý liên đới với ông Hồ Phước L1 trả cho ông Nguyễn Ngọc L số tiền 470.000.000đ trong thời gian 03 tháng. Bà xác định Biên nhận tiền ngày 09/6/2022 là do ông Hồ Phước L1 viết, Chữ ký và chữ viết tại vị trí Người mượn tiền trong Biên nhận tiền nêu trên đúng là chữ ký của bà và ông Hồ Phước L1.
* Tại các lời trình bày trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn T trình bày: Vào ngày 09/6/2022 ông Nguyễn Ngọc L có nhờ ông giao cho ông Hồ Phước L1 số tiền 3.000.000.000đ, số tiền này là của ông L cho ông L1 và bà H vay, đồng thời ông L1 và bà H có viết Biên nhận tiền ngày 09/6/2022 với nội dung có mượn của ông L số tiền 3.000.000.000đ. Sau đó ông có nhận từ ông L1, bà H số tiền lãi của số tiền trên trong 08 tháng, mỗi tháng là 45.000.000 đồng (từ ngày 09/06/2022 đến ngày 09/02/2023), tổng số tiền lãi đã nhận là 360.000.000 đồng. Số tiền lãi này ông đã giao lại cho ông L do ông chỉ nhận dùm cho ông L. Ngoài ra ông không nhận số tiền nào khác của khoản vay 3.000.000.000 đồng giữa ông L và ông L1, bà H.
* Tại phiên tòa sơ thẩm: nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc L, bị đơn ông Hồ Phước L1, bà Cao Thị H giữ nguyên lời trình bày và yêu cầu.
* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án cho rằng:
Về tố tụng: Thẩm phán tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm phán chấp hành đúng theo quy định Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đều tuân theo quy định pháp luật tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng theo quy định pháp luật. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Toà án đưa vụ án ra xét xử là phù hợp theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc L xác định bị đơn ông Hồ Phước L1 và bà Cao Thị H có vay cảu ông số tiền 3.000.000.000đ, thời hạn vay là 03 tháng, khi vay có làm Biên nhận tiền, không có thoả thuận về việc trả lãi trong Biên nhận vay tiền nhưng có thoả thuận tiền lãi ngoài giấy vay tiền là 5%/tháng. Từ khi vay tiền đến nay, ông L1 và bà H có trả cho ông tổng số tiền lãi đã là 360.000.000 đồng, có trả gốc được số tiền 1.760.000.000 đồng vào tháng 8/2023 và còn nợ lại số tiền gốc vay là 1.240.000.000đ. Ông L1 và bà H xác định có vay số tiền 3.000.000.000đ như ông L trình bày nhưng nhận tiền thông qua ông T và viết giấy nợ cho ông L. Sau khi vay tiền thì ông L1 và bà H trả cho ông L số tiền lãi là 1.410.000.000đ và tiền gốc là 2.530.000.000đ do ông T nhận nhưng không làm giấy giao nhận tiền. Ông T xác định có giao số tiền 3.000.000.000đ cho ông L1 và bà H vay, số tiền này ông chỉ giao dùm cho ông L, sau đó ông có nhận số tiền lãi 360.000.000đ từ ông L1 và bà H và đã giao lại cho ông L, ngoài ra ông không nhận số tiền nào khác từ ông L1 và bà H. Ông L1 và bà H không xuất trình được chứng cứ chứng minh việc trả tiền gốc và lãi cho ông L. Vì vậy căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định ông L1 và bà H có vay của ông L số tiền 3.000.000.000đ và còn nợ lại ông L số tiền 1.240.000.000đ. Ông L1 và bà H vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã được quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015 buộc ông L1 và bà H có nghĩa vụ liên đới trả cho ông L số tiền gốc vay là 1.240.000.000đ. Buộc ông L1 và bà H có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền: ông Nguyễn Ngọc L có đơn khởi kiện ông Hồ Phước L1 và bà Cao Thị H tại Tòa án nhân dân về hợp đồng vay tài sản làm phát sinh vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Hồ Phước L1 và bà Cao Thị H có nơi cư trú tại thành phố T, tỉnh Long An nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
[2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng các bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 203, Điều 220, điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[3] Về nội dung:
[3.1] Xét yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc L về việc yêu cầu ông Hồ Phước L1 và bà Cao Thị H trả tiền gốc vay là 1.240.000đ, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ông Nguyễn Ngọc L cung cấp Biên nhận tiền ngày 09/6/2022 có nội dung ông Hồ Phước L1 và bà Cao Thị H có vay của ông Nguyễn Ngọc L số tiền 3.000.000.000đ, thời hạn vay là 03 tháng, không thoả thuận việc trả lãi. Ông L, ông L1 và bà H đều xác định chữ viết trong Biên nhận tiền ngày 09/6/2022 là của ông Hồ Phước L1, chữ ký và chữ viết tại vị trí Người mượn tiền trong Biên nhận tiền nêu trên là chữ ký và chữ viết của bà Cao Thị H và ông Hồ Phước L1. Đồng thời, nguyên đơn và bị đơn đều xác định có thoả thuận về việc trả lãi là 5%/tháng. Ông L1 và bà H cho rằng số tiền nợ 3.000.000.000đ như Biên nhận nêu trên là số tiền ông L1 và bà H vay của ông Bùi Văn T. Nên sau khi vay tiền thì ông L1 và bà H đã trả cho ông T tổng số tiền gốc là 2.530.000.000đ và tổng số tiền lãi là 1.410.000.000đ. Ông L xác định ông L1 và bà H chỉ trả cho ông được số tiền gốc vay là 1.760.000.000đ và tiền lãi là 360.000.000đ. Ông T xác định số tiền 3.000.000.000đ là của ông L cho ông L1 và bà H vay chứ không phải tiền của ông, ông có nhận số tiền lãi từ ông L1 và bà H là 360.000.000đ và ông đã giao lại cho ông L, ngoài ra ông không nhận số tiền nào khác do ông L1 và bà H trả cho khoản vay 3.000.000.000đ mà ông L1 và bà H vay của ông L. Ông L1 và bà H không xuất trình được chứng cứ chứng minh khoản vay trên là vay của ông T và việc trả tiền như đã trình bày.
Vì vậy, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và Biên nhận tiền ngày 09/6/2022, xác định giữa ông Nguyễn Ngọc L với ông Hồ Phước L1 và bà Cao Thị H đã xác lập với nhau hợp đồng vay tài sản là tiền, ông L1 và bà H có vay của ông L số tiền 3.000.000.000đ vào ngày 09/6/2022, có thoả thuận thời hạn vay, có thỏa thuận việc trả lãi, đến nay ông L1 và bà H còn nợ ông L số tiền gốc vay là 1.240.000.000đ.
Do ông L1 và bà H không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình nên ông L yêu cầu ông L1 và bà H phải thanh toán nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Dân sự. Thời điểm xác lập hợp đồng là vào năm 2022 nên áp dụng các quy định của chế định hợp đồng vay tài sản của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết. Do vậy, xác định đây là hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi theo quy định tại Điều 463, Điều 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Việc ông L1 và bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay trong hợp đồng vay làm cho quyền lợi về tài sản của ông L bị thiệt hại theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, nên yêu cầu khởi kiện của ông L là có căn cứ chấp nhận, buộc ông L1 và bà H phải có nghĩa vụ liên đới trả cho ông L tổng số tiền nợ gốc là 1.240.000.000đ.
[3.2] Trong quá trình tố tụng, ông Nguyễn Ngọc L rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu ông L1 và bà H trả số tiền gốc vay là 1.760.000.000đ. Căn cứ vào Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ đối với phần yêu cầu mà ông L đã rút.
[3.3] Về tính lãi: nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, không đề cập đến.
[4] Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án là có căn cứ, Hội đồng xét xử xét chấp nhận.
[5] Về án phí: Ông Nguyễn Ngọc L yêu cầu ông Hồ Phước L1 và bà Cao Thị H có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc vay được Tòa án chấp nhận, nên theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Hồ Phước L1 và bà Cao Thị H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm với mức thu là 49.200.000đ (Bốn mươi chín triệu hai trăm nghìn đồng). Ông Nguyễn Ngọc L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 267; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 288; Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc L về việc yêu cầu ông Hồ Phước L1 và bà Cao Thị H liên đới trả số tiền gốc vay.
Buộc ông Hồ Phước L1 và bà Cao Thị H có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Ngọc L số tiền nợ gốc vay là 1.240.000.000 (Một tỷ hai trăm bốn mươi triệu đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc L về việc yêu cầu ông Hồ Phước L1, bà Cao Thị H trả số tiền gốc vay là 1.760.000.000đ (Một tỷ bảy trăm sáu mươi triệu đồng).
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí: ông Hồ Phước L1 và bà Cao Thị H phải chịu 49.200.000đ (Bốn mươi chín triệu hai trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Ngọc L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Ngọc L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 46.000.000đ (Bốn mươi sáu triệu đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001258 ngày 12/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Cẩm Nhung |
Bản án số 110/2024/DS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 110/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc Lượng "tranh chấp hợp đồng vay" Hồ Phước Long, Cao Thị Hạnh
