|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 110/2024/HS-ST Ngày 10-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đèo Văn Vĩnh;
- Ông Lò Văn Chiên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2024/TLST-HS, ngày 14 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2024/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phu A P, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 28/02/1999, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản H, xã V, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Hà Nhì; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Phu Dì H, sinh năm 1974: Cồ Tả M, sinh năm 1973; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ 02 (anh trai của bị cáo đã chết); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/4/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Xuân O - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L, có mặt.
Người làm chứng: Anh Phu Khờ X, sinh năm 2005, địa chỉ: Bản T, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Vào hồi 20 giờ 00 phút, ngày 28/4/2024, tại khu vực bản M, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, tổ công tác Công an xã S bắt quả tang Phu A P đang tàng trữ trái phép chất ma túy, dạng chất bột màu trắng, được gói ngoài bằng các mảnh nilon. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng do Phu A P giao nộp gồm: 01 gói nilon màu xanh, bên trong có 05 gói nilon màu trắng gói chất bột màu trắng; số tiền 190.000 đồng. Phu A P khai nhận chất bột màu trắng là H do P mua về để sử dụng cho bản thân và bán lẻ kiếm lời. Số tiền 190.000 đồng là tiền do P bán Heroine mà có.
Quá trình điều tra, Phu A P khai nhận: Ngày 27/4/2024, tại khu vực bản N, xã P, huyện P, tỉnh Lai Châu, P nhờ một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch mua hộ Heroine với số tiền 250.000 đồng. Sau khi mua được H, P lấy một ít ra sử dụng, số còn lại, P chia thành 08 gói nhỏ để sử dụng và bán. Khoảng 07 giờ, ngày 28/4/2024, P lấy 01 gói ra sử dụng, số còn lại, P cất giấu trong túi quần không cho ai biết rồi đi đến khu vực bản Mới, xã S tìm người để bán Heroine. Khoảng 17 giờ, ngày 28/4/2024, tại quán B-a của anh Lù A G, thuộc bản Mới, xã S, P bán cho 01 người đoàn ông khoảng 40 tuổi, không rõ nhân thân, lai lịch 01 gói Heroine được số tiền 100.000 đồng. Khoảng 19 giờ cùng ngày, tại đoạn đường thuộc bản Mới, xã S, P bán cho Phu K Xa 01 gói Heroine được số tiền 90.000 đồng. Sau khi bán H cho X, P đi vào quán Bi-a của anh L A G ngồi chơi thì bị công an phát hiện, bắt quả tang.
Tại bản Kết luận giám định số: 22/KL- GĐVV, ngày 29/4/2024, của người giám định tư pháp theo vụ việc, kết luận: 05 gói chất bột màu trắng, thu của Phu A P, có tổng khối lượng: 0,09 gam.
Bản Kết luận giám định số: 486/KL-KTHS, ngày 02/5/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh L, kết luận: 05 Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H).
Bản Kết luận giám định số: 586/GĐ-KTHS ngày 23/5/2024, của Phòng K1 - Công an tỉnh L, kết luận: Số tiền 190.000 đồng tiền Việt Nam gửi giám định là tiền thật.
Tại bản Cáo trạng số: 61/CT-VKS, ngày 14 tháng 8 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Phu A P về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng. Phần luận tội, kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Phu A P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 (Hai) năm, 03 (Ba) tháng đến 02 (Hai) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 90.000 đồng thu của bị cáo; tịch thu tiêu hủy 05 mảnh ni lon màu trắng, 01 mảnh nilon màu xanh và vỏ niêm phong vật chứng; trả lại cho bị cáo số tiền 100.000 đồng. Đối với 0,09 gam Heroine trích trong tổng số Heroine thu của bị cáo đã gửi đi giám định không hoàn lại, không
án, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo. Tranh luận với đề nghị của người bào chữa về mức hình phạt đối với bị cáo, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm luận tội.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản cáo trạng và không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt đối với bị cáo và về xử lý vật chứng, án phí. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện về nguyên nhân phạm tội, điều kiện, hoản cảnh, nhân thân của bị cáo; áp dụng khoản 1 Điều 251; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình tham gia tố tụng, người bào chữa cho bị cáo thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Người làm chứng vắng tại phiên tòa, tại hồ sơ đã có đầy đủ lời khai trong quá trình điều tra, xét thấy sự vắng mặt của người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội mà bị cáo Phu A P đã thực hiện:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong vật chứng, các kết luận giám định, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 28/4/2024, tại khu vực bản M, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, Phu A P đã bán trái phép 01 gói chất ma túy, loại Heroine, cho Phu Khờ X lấy số tiền 90.000 đồng. Hồi 20 giờ 00 phút, ngày 28/4/2024, tổ công tác Công an xã S đã phát hiện, bắt quả tang Phu A P đang có hành vi tàng trữ trái phép 05 gói chất ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng 0,09 gam. Phu A P khai nhận, H của P mua về để sử dụng và bán lẻ kiếm lời.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ H là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức
bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3] Tình tiết liên quan đến vụ án: Bị cáo khai số chất ma túy bị thu giữ là bị cáo nhờ một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch mua hộ. Ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có cơ sở để xác minh, điều tra làm rõ hành vi của người đàn ông này.
Việc bị cáo khai ngoài lần bán Heroine cho Phu K Xa thì trước đó bị cáo còn bán cho một người đàn ông khác 01 gói Heroine được số tiền 100.000 đồng. Do bị cáo không biết họ, tên, địa chỉ của này, ngoài lời khai của bị cáo và số tiền 100.000 đồng bị cáo khai là tiền bán Heroine thì không còn chứng cứ nào khác nên không có căn cứ chắc chắn để xác định bị cáo đã 02 lần bán trái phép Heroine trong vụ án này.
Đối với Phu Khờ X có hành vi mua ma túy của Phu A P để sử dụng, X đã sử dụng hết số ma túy mua được, kết quả test ma túy xác định Phu Khờ X dương tính với ma túy. Cơ quan Công an huyện P đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Xa theo quy định pháp luật.
Việc bị cáo cất giấu 05 gói Heroine có tổng khối lượng 0,09 gam, dưới 0,1 gam, bị cáo không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, mục đích để bị cáo sử dụng và bán nên hành vi này của bị cáo không phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên cần chấp nhận. Đối với quan điểm của người bào chữa về việc đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo hình phạt tù ở mức thấp nhất của khung hình phạt là không phù hợp, không đủ sức răn đe đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình
cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền 100.000 đồng thu của bị cáo, ngoài lời khai của bị cáo ra không có chứng cứ nào khác chứng minh đây là số tiền bị cáo bán trái phép Heroine mà có nên cần trả lại cho bị cáo. Đối với 0,09 gam Heroine thu của bị cáo đã gửi đi giám định không hoàn lại, Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, bị cáo xin được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm nên cần miễn án phí cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, b khoản 1 Điều 47; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; điểm b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên bố:
1. Bị cáo Phu A P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phu A P: 02 (Hai) năm, 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/4/2024.
2. Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 05 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu xanh và vỏ gói, vỏ niêm phong vật chứng.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 90.000 đồng trong tổng số tiền 190.000 đồng đã thu của bị cáo.
Trả lại cho bị cáo số tiền: 100.000 đồng trong tổng số tiền 190.000 đồng đã thu của bị cáo.
(Toàn bộ vật chứng hiện đang được lưu tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Tình trạng vật chứng được mô tả chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 10 giờ 00 phút, ngày 04/9/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).
3. Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |
Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 110/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo TTTP CMT
