Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 08/7/2024

V/v: “Ly hôn giữa chị Tiên và anh Minh”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Vĩnh Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. bà Nguyễn Thị Ngọc Đào
  2. ông Lê Văn Kiệt

- Thư ký phiên toà: bà Đinh Thị Thoảng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Đoan Trang – Kiểm sát viên

Ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 218/2024/TLST - HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2024/QĐXX - DS ngày 17 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Trần Thị Thủy T, sinh năm 1992; Địa chỉ: ấp M, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
  2. Bị đơn: anh Nguyễn Quang M, sinh năm 1993; Địa chỉ: ấp P, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang

chị T, anh M vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 22 tháng 4 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Thủy T trình bày:

- Về hôn nhân: chị và anh Nguyễn Quang M cưới nhau vào năm 2020 và có đăng ký kết hôn vào năm 2020. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 do anh M vi phạm pháp luật, chấp hành hình phạt tù nên vợ chồng không thể sống chung. Nay chị thấy vợ chồng không còn hạnh phúc nên chị yêu cầu ly hôn với anh M.

- Về con chung: có một con chung tên Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 25/9/2020. Hiện cháu đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con.

- Về cấp dưỡng nuôi con: không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung: không có.

- Về nợ chung: không có.

Tại bản tự khai ngày 10 tháng 4 năm 2024, bị đơn anh Nguyễn Quang M trình bày:

- Về hôn nhân: anh và chị T cưới nhau vào năm 2020 và có đăng ký kết hôn vào năm 2020. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì anh vi phạm pháp luật, chấp hành hình phạt tù nên vợ chồng không thể sống chung. Nay chị T xin ly hôn với anh anh đồng ý ly hôn.

- Về con chung: có một con chung tên Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 25/9/2020. Hiện cháu đang sống chung với chị T. Khi ly hôn anh giao con cho chị T trực tiếp nuôi.

- Về cấp dưỡng nuôi con: không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung: không có.

- Về nợ chung: không có.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho phát biểu quan điểm

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Về sự vắng mặt của đương sự: chị Trần Thị Thủy T, anh Nguyễn Quang M có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: chị Trần Thị Thủy T có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Quang M nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, Tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Quang M có nơi cư trú tại xã T, thành phố M nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

[3] Về hôn nhân: Chị T và anh M cưới nhau vào năm 2020, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố M vào năm 2020 là phù hợp với Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì anh M vi phạm pháp luật, chấp hành hình phạt tù. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay.

Xét thấy, anh M cũng đồng ý ly hôn với chị T, do đó Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị T với anh M.

[4] Về con chung: có một con chung tên Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 25/9/2020. Hiện cháu đang sống chung với chị T. Khi ly hôn chị T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con.

Xét thấy do cháu N cũng đang sống chung với chị T, anh M đang chấp hành án nên không thể trực tiếp nuôi con; do đó, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cháu N cho chị T trực tiếp nuôi là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: chị T và anh M không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: chị T và anh M không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: chị T tự chịu 150.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

[8] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 55; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị Thủy T và anh Nguyễn Quang M.
  2. Về nuôi con chung: giao con chung tên Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 25/9/2020 cho chị Trần Thị Thủy T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Quang M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về án phí: chị Trần Thị Thủy T tự nguyện chịu tiền án phí sơ thẩm là 150.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 6036 ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Cơ quan thi hành án dân sự thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
  4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND TP Mỹ Tho;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Tân Mỹ Chánh, thành phố Mỹ Tho;
  • - Chi Cục THADS TP Mỹ Tho;
  • - Lưu.

TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Vĩnh Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HNGĐ-ST ngày 08/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 110/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, Tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger