Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NINH BÌNH

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/HSST

Ngày: 07 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Tuyết

Hội thẩm nhân dân: 1. Phạm Ngọc Lợi

2. Bà Hoàng Thị Kim Phượng

Thư ký phiên toà: Ông Bùi Việt Cường, Thư ký - Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình - tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 94/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và Tên: Nguyễn Hữu C. Tên gọi khác: Không; sinh năm 1977 tại Ninh Bình; Nơi ĐKHKTT và Nơi cư trú: Số nhà B, ngõ B, đường T, phố P, phường N, thành phố N; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Hữu C1 (đã chết) và con bà Trần Thị T1; Vợ: Nguyễn Thị T2, con: Có 03 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Nhân thân: Ngày 25/10/2006 Công an phường N xử phạt hành chính, phạt Cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 26/10/2006 Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N ra Quyết định số 46/QĐ-UB đưa vào cai nghiện tại gia đình và cộng đồng thời hạn 06 tháng. Tại bản án số 07 ngày 14/03/2007 Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại bản án số 27 ngày 25/03/2010 Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 07 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/5/2024 đến ngày 20/5/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N đến nay, có mặt.

Người chứng kiến: Ông Phan Văn M. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Hữu C là người sử dụng ma túy. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 14/05/2024 do có nhu cầu sử dụng ma túy “đá” nên C bắt xe buýt đi đến khu vực cầu N thuộc huyện N, tỉnh Ninh Bình để tìm mua ma túy “đá”. Tại đây C gặp 01 người nam giới lái xe ôm nhìn giống người nghiện ma túy, C đến hỏi mua của người này 800.000 đồng ma túy “đá”, người lái xe ôm đồng ý. C đưa cho người này số tiền 800.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 03 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng). Người này cầm tiền rồi điều khiển xe máy rời đi, khoảng 05 phút sau người này quay lại, đưa cho C 01 túi nilon màu trắng miệng túi có viền màu đỏ kích thước khoảng 5x10cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Xác định đây là ma túy “đá” nên C cầm lấy, cất giấu vào trong túi quần bên phải phía trước đang mặc, rồi bắt xe buýt đi về nhà tại phường N, thành phố N để sử dụng. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, C về đến trước cửa nhà.

Ngày 27/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N nhận được phiếu chuyển đơn của công an tỉnh N kèm theo đơn tố giác nặc danh tố giác Nguyễn Hữu C có hành vi mua bán, tổ chức sử dụng và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 14/05/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N triệu tập đối với Nguyễn Hữu C, sinh năm 1977, trú tại phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, để làm việc liên quan đến hành vi “Mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy”. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, tổ công tác Đội CSĐTTP về Kinh tế - Ma túy cùng với Công an phường N đến nhà Nguyễn Hữu C triệu tập thì gặp C đang đứng ở trước cửa nhà. Tổ công tác thông báo cho C về nội dung triệu tập và yêu cầu C đến Công an thành phố làm việc, tuy nhiên C không chấp hành và có hành động chống đối, vì vậy tổ công tác đã khống chế và đưa C về trụ sở Công an thành phố N tại phố T, phường N, thành phố N. Tại đây trong quá trình làm việc, C có hành động dùng tay phải của mình cho vào túi quần bên phải phía trước C đang mặc, nhận thấy có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác mời người chứng kiến, cùng với sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện tại vị trí túi quần bên phải phía trước C đang mặc có 01 túi nilon màu trắng miệng túi có viền màu đỏ kích thước khoảng 5x10cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng theo đúng quy định của pháp luật và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra thu giữ của C 01 điện thoại Nokia màu đen lắp sim số 0567.873.777, 01 ví giả da màu đen bên trong có số tiền 2.940.000 đồng.

Tiến hành cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Hữu C là 0,905 gam được cho vào túi nilong ký hiệu M gửi đi giám định xác định khối lượng ma túy, loại chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 430/KL-KTHS-MT ngày 19/05/2024 của phòng K Công an tỉnh N: Chất tinh thể màu trắng kí hiệu M gửi giám định có khối lượng là 0,8945 gam, là ma túy, loại Methamphetamine Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục IIC, số thứ tự 247; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. H lại đối tượng giám định: mẫu ký hiệu M còn lại có khối lượng 0,8020 gam là ma túy loại Methamphetamine và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong.

Tại bản cáo trạng số 103/CT-VKSNDTPNB ngày 04/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 14/5/2024.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì số 430/KL-KTHS-MT niêm phong mẫu vật hoàn trả sau giám định gồm M = 0,8020 gam là ma tuý loại Methamphetamine. Toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì ký hiệu C niêm phong vỏ túi nilon, phong bì niêm phong ban đầu.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự và được quyền kháng cáo theo quy định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; Không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình.

Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Kết luận giám định số 430/KL- KTHS -MT ngày 19/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh N. Như vậy Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 14/5/2024 tại phố T, phường N, thành phố N, bị cáo Nguyễn Hữu C có hành vi cất giấu trái phép 0,8945 gam, là ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân bị phát hiện bắt quả tang.

[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về việc cất giữ chất ma tuý; Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự đồng thời biết rất rõ tác hại của ma túy và việc mua bán, tàng trữ, sử dụng ma tuý bị nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, C2, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

[3] Về nhân thân; tình tiết tăng nặng; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi dụng trái phép chất ma tuý và bị xét xử về tội tàng trữ, mua bán trái phép chất ma tuý nhưng đã được xoá án tích.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có mẹ đẻ là bà Trần Thị T1 là người tham gia kháng chiến được tặng huân chương kháng chiến hạng ba, bố đẻ bị cáo là ông Nguyễn Hữu C1 bị thương binh loại 4 và được thưởng huân chương chiến sỹ vẻ vang. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt: Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt tù cách ly xã hội một thời gian tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích vụ lợi vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì số 430/KL-KTHS-MT niêm phong mẫu vật hoàn trả sau giám định gồm M = 0,8020 gam là ma tuý loại Methamphetamine. Toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì ký hiệu C niêm phong vỏ túi nilon, phong bì niêm phong ban đầu là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

[6] Các vấn đề khác:

- Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ của bị cáo: Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Hữu C khai số ma túy này mua của một người đàn ông không quen biết lái xe ôm tại khu vực cầu N thuộc huyện N, tỉnh Ninh Bình. Bị cáo C khai không biết lai lịch cụ thể của người này là ai, ở đâu. Do đó không có cơ sở điều tra xác minh làm rõ.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen lắp sim số 0567.873.777, 01 ví giả da màu đen bên trong có 2.940.000 đồng (hai triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng). Quá trình điều tra xác định những đồ vật, tài sản trên là tài sản hợp pháp của Nguyễn Hữu C, không liên quan đến hành vi vi phạm của C. Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định xử lý vật chứng trả cho Nguyễn Hữu C theo quy định, C đã ủy quyền cho vợ là chị Nguyễn Thị Thủy s năm 1984 trú tại phố P, phường N nhận lại tài sản. HĐXX không xem xét.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[8] Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

  1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 14/5/2024.
  2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì số 430/KL-KTHS-MT niêm phong mẫu vật còn lại hoàn trả sau giám định gồm M = 0,8020 gam là ma tuý loại Methamphetamine. Toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì ký hiệu C niêm phong vỏ túi nilon, phong bì niêm phong ban đầu.

    (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

  3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Hữu C phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDtỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSNDTP Ninh Bình;
  • - Chi Cục THADS thành phố Ninh Bình;
  • - Công an thành phố Ninh Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - THA hình sự
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phạm Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HSST ngày 07/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 110/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu C phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger