|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 110/2024/HS-ST Ngày: 05 – 06 – 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Bà Nguyễn Thị Thu Thảo;
- - Bà Lê Thị Sao.
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Trần Hà Ngọc Châu – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 112/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐXXST-HS ngày 20/05/2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn H (Còn gọi: T), sinh năm 1985; Tại: Vĩnh Long; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long; chỗ ở hiện nay: 5 T, phường T, quận T, TP .; Nghề nghiệp: nhân viên quản lý; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1960 và bà Hồ Thị M, sinh năm 1960; Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/08/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (Cơ sở T30) Công an T8 và có mặt tại phiên tòa.
2. Huỳnh Thị N, sinh năm 1995; Tại: Kiên Giang; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp C, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở hiện nay: 2 T, phường T, quận T, TP .; Nghề nghiệp: nhân viên quản lý; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh Văn K, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1975; Chồng: chưa có; Con: có 01 người con sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/08/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (Cơ sở T30) Công an T8 và có mặt tại phiên tòa.
3. Huỳnh Thị Hồng G, sinh năm 1997; Tại: Sóc Trăng; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp V, xã V, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở hiện nay: số A đường D, phường T, quận T, TP .; Nghề nghiệp: nhân viên quản lý; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh Văn S, sinh năm 1967 và bà Trần Thị Tuyết H1, sinh năm 1970; Chồng: chưa có;, con: có 02 người con (Lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2020).
Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/08/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (Cơ sở T30) Công an T8 và có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Ngô Thị Mộng T2, sinh năm 1993; trú tại: số A đường D, phường T, quận T, TP . (Vắng mặt).
- Chị Võ Ngọc Huỳnh T3, sinh năm 2004; trú tại: số A đường D, phường T, quận T, TP . (Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 2001; trú tại: số A đường D, phường T, quận T, TP . (Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Ngọc Anh T4, sinh năm 2005; trú tại: số A đường D, phường T, quận T, TP . (Vắng mặt).
- Chị Lê Thị Mỹ D, sinh năm 2004; trú tại: 1 N, Phường A, quận G, TP . (Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị Cẩm L, sinh năm 1996; trú tại: 2 N, phường T, quận T, TP . (Vắng mặt).
- Anh Lê Huỳnh Hoàng L1, sinh năm 1983; trú tại: 2 Đ, phường S, quận T, TP. (Vắng mặt).
- Phan Thanh M2, sinh năm 2004; trú tại: A G, phường T, quận T, TP . (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 02 giờ 45 phút ngày 26/8/2023, Phòng C Công an Thành phố T8 kết hợp Công an quận T kiểm tra hành chính tại khách sạn H4, địa chỉ số: B T, phường T, quận T phát hiện có 03 cặp nam nữ đang thực hiện hành vi quan hệ tình dục qua hình thức mua bán dâm, cụ thể:
- - Tại phòng 101, Nguyễn Ngọc Anh T4 bán dâm với Trương Khắc P;
- - Tại phòng 103, Nguyễn Thị Như Ý bán dâm với Nguyễn Viết Đ;
- - Tại phòng 104, Lê Thị Mỹ D bán dâm với Mai Ngọc T5.
Cùng lúc này, tại khách sạn T9, địa chỉ số: D L, phường S, quận T phát hiện có 02 cặp nam nữ đang thực hiện hành vi quan hệ tình dục qua hình thức mua bán dâm, cụ thể:
- Tại phòng 104, Võ Ngọc Huỳnh T3 bán dâm với Nguyễn Thu Lê H2;
- Tại phòng 201, Ngô Thị Mộng T2 bán dâm với Đỗ Huy T6.
Đồng thời, qua truy xét phát hiện khoảng 02 giờ 00 phút ngày 26/8/2023, Phan Thanh M2 bán dâm cho anh Nguyễn Ngọc N1 tại phòng số 103 của khách sạn P2, địa chỉ E đường T, phường T, quận T.
Qua làm việc, Nguyễn Ngọc Anh T4, Nguyễn Thị Như Ý, Lê Thị Mỹ D, Võ Ngọc Huỳnh T3, Ngô Thị Mộng T2 đều khai nhận là nhân viên của quán K1, địa chỉ 5 T, phường T, quận T; Phan Thanh M2 là nhân viên của quán K1, địa chỉ A T, phường T, quận T và được các “má mì” là Huỳnh Thị N, Huỳnh Thị Hồng G và Nguyễn Văn H (T) môi giới bán dâm ngay tại quán karaoke P1 và P nêu trên.
Do đó, Phòng C Công an Thành phố T8 đã đưa H, Như và G về trụ sở làm việc.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Nguyễn Văn H, Huỳnh Thị N và Huỳnh Thị Hồng G đã thừa nhận toàn bộ hành vi môi giới mại dâm của mình.
Đối với Nguyễn Văn H khai nhận: Từ tháng 10/2022 đến nay, H làm phó tổng quản lý của quán K1, địa chỉ A T, phường T, quận T và nhận được chỉ đạo của tổng quản lý là Nguyễn Thị H3 (tên thường gọi là N2) trong cuộc họp các nhân viên quản lý của quán karaoke P1 và karaoke Pandora 2, yêu cầu các nhân viên quản lý trong đó có H phải môi giới mại dâm cho khách đến quán khi có nhu cầu. Để đối phó với cơ quan công an, các nhân viên bảo vệ là Nguyễn Văn B và Võ Văn M3 sẽ viết giấy ra cổng với nhiều lý do xin về sớm cho nhân viên nữ của quán ra ngoài bán dâm. Do vậy, tại các quán karaoke trên hoàn toàn không trả lương cho nhân viên nữ của quán mà ngược lại mỗi ngày thu cố định mỗi người số tiền 80.000 đồng thông qua Nguyễn Văn B và Võ Văn M3. Đối với mỗi trường hợp môi giới bán dâm thành công, H sẽ hưởng lợi từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng trên tổng số tiền bán dâm. Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 26/8/2023, tại quán K1, H đã điều nhân viên nữ Phan Thanh M2 đi bán dâm cho khách hàng Nguyễn Ngọc N1 với số tiền 4.000.000 đồng, trong đó H hưởng lợi số tiền 500.000 đồng. Sau đó, Thanh M2 cùng anh N1 thuê phòng số 103 của khách sạn P2, địa chỉ E đường T, phường T, quận T để thực hiện mua bán dâm.
Đối với Huỳnh Thị N khai nhận: Từ tháng 6/2023, lợi dụng việc tổng quản lý Nguyễn Thị H3 (N) cho phép các quản lý của quán karaoke giải quyết cho nhân viên được nghỉ hoặc ra về trong giờ làm việc nên N nảy sinh ý định cho nhân viên nữ của quán karaoke P1 bán dâm cho khách để hưởng lợi, mỗi trường hợp môi giới bán dâm thành công, Như sẽ hưởng lợi 500.000 đồng trên tổng số tiền bán dâm. Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 25/8/2023, tại quán K1, N đã môi giới để nhân viên nữ Nguyễn Ngọc Anh T4 đi bán dâm cho khách hàng Trương Khắc P với số tiền 4.000.000 đồng, N hưởng lợi số tiền 500.000 đồng và đưa lại cho T4 3.500.000 đồng. Sau đó, P và T4 thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng số 102 của khách sạn H4. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 26/8/2023, P tiếp tục liên hệ Như để mua dâm lần 2 cùng với Nguyễn Viết Đ và Mai Ngọc T5 (bạn của P), Như điều các nhân viên nữ gồm Nguyễn Ngọc Anh T4, Nguyễn Thị Như Ý và Lê Thị Mỹ D đi bán dâm cho nhóm của P tại khách sạn H4, với số tiền 11.000.000 đồng do N đã nhận chuyển khoản từ P. Khoảng 02 giờ cùng ngày, Như còn môi giới để các khách hàng Nguyễn Thu Lê H2 và Đỗ Huy T6 mua dâm của nhân viên nữ Võ Ngọc Huyền T7 và Ngô Thị Mộng T2 tại khách sạn T9, với số tiền 4.000.000 đồng/người. Phòng C Công an Thành phố T8 kiểm tra, phát hiện 05 cặp nam nữ đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại khách sạn H4 và khách sạn T9 như trên.
Đối với Huỳnh Thị Hồng G khai nhận: Gấm giúp sức cho Huỳnh Thị N môi giới cho nhân viên nữ Võ Ngọc Huyền T7 bán dâm anh Nguyễn Thu Lê H2 tại khách sạn T9 thì bị phát hiện như trên. Khi N hỏi về việc điều nhân viên nữ đi bán dâm, G không biết người khách mua dâm nhưng G vẫn kêu T7 đi bán dâm cho khách hàng quen biết với Như. Ngoài ra, G cũng thừa nhận đã làm nhân viên quản lý tiếp viên nữ tại quán K1 và biết được các nhân viên nữ có bán dâm cho khách nên biết được số tiền mà nhân viên nữ sẽ đưa cho nhân viên quản lý từ việc môi giới mại dâm, nhưng đây là lần đầu Gấm môi giới mại dâm và chưa được hưởng lợi.
* Vật chứng thu giữ.
- - 05 bao cao su thu giữ tại các phòng 101, 103 và 104 của khách sạn H4, các phòng 104 và 201 của khách sạn T9, đã qua sử dụng;
- - 01 điện thoại di động Iphone, số Imei: 353067119119107 của Ngô Thị Mộng T2, đã qua sử dụng. Do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho T2 (BL 612).
- - 01 điện thoại di động OPPO, số Imei: 865822055057153 của Võ Ngọc Huỳnh T3, đã qua sử dụng. Do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho T3 (BL 615).
- - 01 điện thoại di động Iphone màu vàng, số Imei: 353906101849322, số Imei 2: 353906102068443 của Nguyễn Thị Như Ý, đã qua sử dụng. Do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho Ý (BL 611).
- - 01 điện thoại di động Iphone XS màu đen, số Imei: 353140100261947 của Nguyễn Ngọc Anh T4, đã qua sử dụng. Do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho T4 (BL 613).
- - 01 điện thoại di động Iphone màu trắng, số Imei: 352682658825699,số Imei 2: 352682658635627 của Lê Thị Mỹ D, đã qua sử dụng. Do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho D (BL 614).
- - 01 điện thoại di động Iphone 14 màu tím của Nguyễn Thị Cẩm L, đã qua sử dụng. Do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho L (BL 617).
- - 01 đầu ghi KB Vision, 01 thiết bị màu đen Draytek, 01 thiết bị màu đen Tplink, 01 sổ tay màu trắng (sổ đặt bàn), 01 bản ký công Pan 2 (ngày 25/8/2023), đều đã qua sử dụng và là thiết bị, sổ sách, giấy tờ của quán K1 do Lê Huỳnh Hoàng L1 là quản lý giao nộp.
- - 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax, dung lượng 128GB, số Imei: 359237637054334 của Huỳnh Thị N, đã qua sử dụng. Đây là điện thoại được N sử dụng thực hiện hành vi phạm tội.
- - 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax, dung lượng 128GB, số Imei: 357095189223091 của Huỳnh Thị Hồng G, đã qua sử dụng. Đây là điện thoại được G sử dụng thực hiện hành vi phạm tội.
- - 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, dung lượng 256GB, số Imei: 353903101399374 của Nguyễn Văn H, đã qua sử dụng. Đây là điện thoại sử dụng cá nhân của H.
Tại bản Cáo trạng số 129/CT-VKS ngày 15/05/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP. đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H, Huỳnh Thị Hồng G về tội: “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Truy tố bị cáo Huỳnh Thị N về tội: “Môi giới mại dâm” theo điểm d, đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên Tòa:
- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Nguyễn Văn H.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Huỳnh Thị Hồng G.
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Hồng G từ 01 năm đến 02 năm tù.
Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Huỳnh Thị N.
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị N: từ 04 năm đến 05 năm tù.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề cập xử lý vật chứng.
- Các Bị cáo Nguyễn Văn H, Huỳnh Thị Hồng G, Huỳnh Thị N đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, qua phần xét hỏi và tranh luận, các bị cáo Nguyễn Văn H, Huỳnh Thị Hồng G, Huỳnh Thị N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 02 giờ ngày 26/8/2023, tại quán K1, địa chỉ A T, phường T, quận T, Nguyễn Văn H (nhân viên quản lý) đã có hành vi môi giới cho Phan Thanh M2 (nhân viên nữ) bán dâm cho anh Nguyễn Ngọc N1 với giá 4.000.000 đồng tại phòng 103 khách sạn P2, địa chỉ E, phường T, quận T thì bị phát hiện. H chưa nhận tiền môi giới 500.000 đồng.
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 26/8/2023, tại quán K1, địa chỉ 52 – E T, phường T, quận T, Huỳnh Thị N (nhân viên quản lý) đã có hành vi môi giới cho Nguyễn Ngọc Anh T4, Nguyễn Thị Như Ý, Lê Thị Mỹ D (nhân viên nữ) bán dâm cho các anh Trương Khắc P, Nguyễn Viết Đ, Mai Ngọc T5 với giá 11.000.000 đồng (gồm 3.500.000 đồng/người và tiền bo 500.000 đồng), để hưởng lợi số tiền 12.000.000 đồng tại phòng 101, 103, 104 khách sạn H4, địa chỉ số B T, phường T, quận T thì bị phát hiện.
Ngoài ra, vào khoảng 02 giờ ngày 26/8/2023, Huỳnh Thị N còn môi giới Võ Ngọc Huỳnh T3, Ngô Thị Mộng T2 (nhân viên nữ) bán dâm cho các anh Nguyễn Thu Lê H2, Đỗ Huy T6 với giá 4.000.000 đồng/người, để hưởng lợi số tiền 1.000.000 đồng tại phòng 104, 201 khách sạn T9, địa chỉ số D L, phường S, quận T thì bị phát hiện.
Đối với Huỳnh Thị Hồng G có hành vi giúp sức cho Huỳnh Thị N môi giới cho Võ Ngọc Huỳnh T3 bán dâm cho anh Nguyễn Thu Lê H2 tại khách sạn T9, địa chỉ số D L, phường S, quận T thì bị phát hiện.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H, Huỳnh Thị Hồng G về tội: “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Truy tố bị cáo Huỳnh Thị N về tội: “Môi giới mại dâm” theo điểm d, đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là phù hợp pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự xã hội, đồng thời xâm phạm đến thuần phong mỹ tục của dân tộc. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do các bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo Nguyễn Văn H, Huỳnh Thị Hồng G phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] - Đối với Nguyễn Thị H3 (N, tổng quản lý), khi mới bị phát hiện Nguyễn Thị H3 (N, tổng quản lý) đã bỏ trốn nên chưa làm việc được, ngoài lời khai của các đối tượng và người liên quan không còn chứng cứ nào khác để xác định H3 là người chỉ đạo cho các nữ nhân viên bán dâm. Qua xác minh tại địa phương, hiện nay H3 đã đi khỏi địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra Quyết định truy tìm người và ra Quyết định tách hành vi để tiếp tục xác minh, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau là phù hợp.
- Đối với Nguyễn Văn B, Võ Tấn M4 (nhân viên điều phối), sau khi làm việc ban đầu Cơ quan điều tra đã cho về để củng cố chứng cứ thì đối tượng B, M4 đã đi khỏi địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra Quyết định truy tìm người và ra Quyết định tách hành vi để tiếp tục xác minh, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau là phù hợp.
- Đối với hành vi mua dâm của anh Trương Khắc P, Nguyễn Viết Đ, Mai Ngọc T5, Nguyễn Thu Lê H2, Đỗ Huy T6, Huỳnh Ngọc N3 và hành vi bán dâm của Nguyễn Ngọc Anh T4, Nguyễn Thị Như Ý, Lê Thị Mỹ D, Võ Ngọc Huỳnh T3, Ngô Thị Mộng T2, Phan Thanh M2 đã bị Công an quận T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật là phù hợp.
[6] Biện pháp tư pháp: Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự buộc bị cáo Huỳnh Thị N nộp lại số tiền 13.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 05 bao cao su thu giữ tại các phòng 101, 103 và 104 của khách sạn H4, các phòng 104 và 201 của khách sạn T9, đã qua sử dụng. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cân tuyên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 điện thoại di động Iphone, số Imei: 353067119119107 của Ngô Thị Mộng T2, đã qua sử dụng. Do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho T2 là phù hợp.
- - Đối với 01 điện thoại di động OPPO, số Imei: 865822055057153 của Võ Ngọc Huỳnh T3, đã qua sử dụng. Do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho T3 là phù hợp.
- - Đối với 01 điện thoại di động Iphone màu vàng, số Imei: 353906101849322, số Imei 2: 353906102068443 của Nguyễn Thị Như Ý, đã qua sử dụng. Do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho Ý là phù hợp.
- - Đối với 01 điện thoại di động Iphone XS màu đen, số Imei: 353140100261947 của Nguyễn Ngọc Anh T4, đã qua sử dụng. Do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho T4 là phù hợp.
- - Đối với 01 điện thoại di động Iphone màu trắng, số Imei: 352682658825699,số Imei 2: 352682658635627 của Lê Thị Mỹ D, đã qua sử dụng. Do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho D là phù hợp.
- - Đối với 01 điện thoại di động Iphone 14 màu tím của Nguyễn Thị Cẩm L, đã qua sử dụng. Do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho L là phù hợp.
- - Đối với 01 đầu ghi KB Vision, 01 thiết bị màu đen Draytek, 01 thiết bị màu đen Tplink. Xét đây là tài sản hợp pháp của anh L1, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tuyên trả lại cho a L1.
- - Đối với 01 sổ tay màu trắng (sổ đặt bàn), 01 bản ký công Pan 2 (ngày 25/8/2023), đều đã qua sử dụng và là thiết bị, sổ sách, giấy tờ của quán K1 2 do Lê Huỳnh Hoàng L1 là quản lý giao nộp cần lưu hồ sơ vụ án.
- - Đối với 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax, dung lượng 128GB, số Imei: 359237637054334 của Huỳnh Thị N, đã qua sử dụng. Đây là điện thoại được N sử dụng thực hiện hành vi phạm tội. Xét đây là phương tiện phạm tội, nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- - Đối với 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax, dung lượng 128GB, số Imei: 357095189223091 của Huỳnh Thị Hồng G, đã qua sử dụng. Đây là điện thoại được G sử dụng thực hiện hành vi phạm tội. Xét đây là phương tiện phạm tội, nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- - Đối với 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, dung lượng 256GB, số Imei: 353903101399374 của Nguyễn Văn H, đã qua sử dụng. Đây là điện thoại sử dụng cá nhân của H. Xét không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.
[8] Về án phí: Các Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Huỳnh Thị Hồng G, Huỳnh Thị N đều phạm tội: “Môi giới mại dâm”.
[2] Áp dụng: khoản 1 Điều 328; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Nguyễn Văn H.
[3] Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn H 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù.
Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam: ngày 29/08/2023.
[4] Áp dụng: khoản 1 Điều 328; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Huỳnh Thị Hồng G.
[5] Xử phạt: bị cáo Huỳnh Thị Hồng G 01 (Một) năm tù.
Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam: ngày 29/08/2023.
[6] Áp dụng: điểm d, đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Huỳnh Thị N;
[7] Xử phạt: bị cáo Huỳnh Thị N 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam: ngày 29/08/2023.
[8] Biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự.
- Buộc bị cáo Huỳnh Thị N phải nộp lại số tiền 13.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
[9] Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- - Tịch thu tiêu hủy: 05 bao cao su thu giữ tại các phòng 101, 103 và 104 của khách sạn H4, các phòng 104 và 201 của khách sạn T9, đã qua sử dụng.
- - Trả lại cho anh Lê Huỳnh Hoàng L1: 01 đầu ghi KB Vision, 01 thiết bị màu đen Draytek, 01 thiết bị màu đen Tplink.
- - Lưu hồ sơ vụ án: 01 sổ tay màu trắng (sổ đặt bàn), 01 bản ký công pan 2 (ngày 25/8/2023).
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax, dung lượng 128GB, số Imei: 359237637054334 của Huỳnh Thị N, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax, dung lượng 128GB, số Imei: 357095189223091 của Huỳnh Thị Hồng G, đã qua sử dụng.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H: 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, dung lượng 256GB, số Imei: 353903101399374 của Nguyễn Văn H, đã qua sử dụng.
Các vật chứng trên đang nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 96/LNK ngày 19/4/2024 và số 41/LNK ngày 02/02/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T.
[10] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- - Buộc các bị cáo Nguyễn Văn H, Huỳnh Thị Hồng G, Huỳnh Thị N. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Về quyền kháng cáo: các Bị cáo Nguyễn Văn H, Huỳnh Thị Hồng G, Huỳnh Thị N có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT SỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Thành |
10
Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về môi giới mại dâm
- Số bản án: 110/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Môi giới mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Môi giới mại dâm
