Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 110/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 03/11/2023

“V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình xin ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Phường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tùng và ông Lê Văn Vững.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Jét - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.

Trong ngày 03 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 415/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình về xin ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 294/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2023, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1988;

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

2. Bị đơn: Anh Trần Nguyên B, sinh năm 1980;

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

(Các đương sự vắng nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, ý kiến tại biên bản hòa giải nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh B do mai mối rồi quen biết nhau, được hai bên gia đình tổ chức đám cưới vào năm 2006 nhưng chưa có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường có lời qua tiếng lại làm cho không khí gia đình lúc nào cũng căng thẳng. Vợ chồng đã ly thân với nhau từ năm 2014 cho đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc hôn nhân không đạt được nên nay chị yêu cầu được ly hôn với anh B.

- Về quan hệ nuôi con: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Thị Kiều M, sinh ngày 27/7/2007 và hiện con đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

- Về quan hệ tài sản: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về quan hệ nợ: Không có nợ ai và cũng không cho ai nợ. Chị cam kết lời trình bày này của mình nếu sau này có ai kiện đòi nợ chị và anh B thì chị xin chịu trách nhiệm cùng với anh B. Ngoài ra, chị không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

* Theo ý kiến tại biên bản hòa giải bị đơn anh Trần Nguyên B trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh thống nhất với toàn bộ lời trình bày của chị Đ. Nay anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Đ.

- Về quan hệ nuôi con: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Thị Kiều M, sinh ngày 27/7/2007 và hiện con đang sống với chị Đ. Khi ly hôn anh đồng ý giao con cho chị Đ nuôi dưỡng và anh không cấp dưỡng nuôi con do chị Đ không có yêu cầu.

- Về quan hệ tài sản: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về quan hệ nợ: Không có nợ ai và cũng không cho ai nợ. Anh cam kết lời trình bày này của mình nếu sau này có ai kiện đòi nợ anh và chị Đ thì anh xin chịu trách nhiệm cùng với chị Đ. Ngoài ra, anh không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

* Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ do đương sự cung cấp gồm:

- Tài liệu, chứng cứ bên phía nguyên đơn giao nộp cho Tòa án:

  • + Căn cước công dân (Bản photo);
  • + Giấy khai sinh con chung (Bản sao).

- Tài liệu, chứng cứ bên phía bị đơn giao nộp cho Tòa án: Không.

- Tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập: Không.

Các tài liệu trong hồ sơ đương sự thống nhất theo biên bản phiên họp công khai và tiếp cận chứng cứ ngày 23/10/2023.

* Các tình tiết, sự kiện trong vụ án các bên đương sự thống nhất: Về quan hệ nuôi con, về quan hệ tài sản và về quan hệ nợ.

* Các tình tiết mà các bên đương sự không thống nhất: Về quan hệ hôn nhân do không có đăng ký kết hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật, xét thấy: Chị Đ yêu cầu Tòa án giải quyết xin được ly hôn với anh B, yêu cầu được nuôi con chung tên Trần Thị Kiều M và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Ngoài ra, các đương sự không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật của vụ án này là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình về xin ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền, xét thấy: Tranh chấp trên giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn hiện nay đang cư trú tại ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về tố tụng, xét thấy: Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Đ và anh B vắng nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Đ và anh B.

[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xét thấy:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đ và anh B do mai mối rồi quen biết nhau, được hai bên gia đình tổ chức đám cưới vào năm 2006, chưa có đăng ký kết hôn, mặc dù đã sống chung với nhau như vợ chồng nhưng chị Đ và anh B đã không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật để được công nhận là vợ chồng. Bởi lẽ, tại khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình quy định: “1. N, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng ...” và khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này ...”. Đồng thời, do chị Đ và anh B không đăng ký kết hôn, nay chị Đ xin ly hôn với anh B nên Tòa án không tiến hành hòa giải quan hệ hôn nhân giữa hai người.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không công nhận chị Đ và anh B là vợ chồng do không đăng ký kết hôn.

- Về quan hệ nuôi con: Quá trình chung sống chị Đ và anh B có 01 con chung tên Trần Thị Kiều M, sinh ngày 27/7/2007, hiện con đang sống với chị Đ. Đối với chị Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con, còn anh B đồng ý theo toàn bộ yêu cầu trên của chị Đ. Xét thấy, việc thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 246 của Bộ luật tố tụng dân sự công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Anh B có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

- Về quan hệ tài sản: Chị Đ và anh B thống nhất trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết. Nếu sau này, giữa hai bên có phát sinh tranh chấp về quan hệ tài sản thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

- Về quan hệ nợ: Chị Đ và anh B thống nhất trình bày không có nợ ai, cũng không cho ai nợ và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết. Nếu sau này, giữa hai bên hoặc bên thứ ba có phát sinh tranh chấp về quan hệ nợ thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

[5] Về án phí: Chị Đ phải nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 235, Điều 246, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị Đ và anh Trần Nguyên B là vợ chồng.
  2. Về quan hệ nuôi con: Chị Đ được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Trần Thị Kiều M, sinh ngày 27/7/2007. Đồng thời, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Đ không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nuôi, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  1. Về quan hệ tài sản: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về quan hệ nợ: Không có nợ ai và cũng không cho ai nợ.
  3. Về án phí: Chị Đ phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000926, ngày 20/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. Chị Đ đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  4. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

* Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án Tỉnh;
  • - VKSND huyện Tháp Mười;
  • - CCTHADS huyện Tháp Mười;
  • - Lưu hồ sơ vụ án: (Jet).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Minh Phường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2023/HNGĐ-ST ngày 03/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hôn nhân và gia đình xin ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

  • Số bản án: 110/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình xin ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn giữa chị Đ và anh B
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger