Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 03 – 7 – 2024

V/v “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thúy Dung.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Ngọc Sơn.

Bà Nguyễn Kim Huệ.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Tú, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Trung Tính – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 164/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024, về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 222/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024, giữa:

Nguyên đơn: Anh Danh Hữu Ng, sinh năm: 1993 (Có mặt).

Cư trú tại: Ấp Gò Cg, xã Nguyễn Việt K, huyện Phú T, tỉnh CM.

Bị đơn: Chị Trần Thị Cẩm G, sinh năm: 2000 (Vắng mặt).

Cư trú tại: Ấp Rạch Ch, xã Rạch Ch, huyện Phú T, tỉnh CM.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, được bổ sung tại phiên tòa của anh Danh Hữu Ng là nguyên đơn thể hiện:

Về hôn nhân: Anh và chị Trần Thị Cẩm G xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nguyễn Việt Khái, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 115/2019. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, đến tháng 10 năm 2023 thì giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo anh là do anh, chị bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến cự cải thường xuyên, đánh nhau một lần. Mâu thuẫn giữa vợ chồng cha, mẹ hai bên có biết nhưng không tổ chức hòa giải hàn gắn. Anh, chị đã ly thân từ tháng 10 năm 2023 cho đến nay. Do đó, anh Ng xét thấy tình cảm vợ chồng

không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị G.

Về con chung: Anh Ng xác định: Anh, chị có hai người con chung tên Danh Thiên Ph, sinh ngày 25/7/2020, Danh Kiều Ng, sinh ngày 13/10/2022, hiện cháu Ph đang sống với anh Ng, cháu Ng đang sống với chị G. Khi ly hôn anh Ng yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ph, yêu cầu chị G tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ng, không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh Ng xác định không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về nợ chung và người khác nợ lại: anh Ng khai vợ chồng không nợ ai và không ai nợ lại anh, chị.

Đối với chị Trần Thị Cẩm G, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn chị Trần Thị Cẩm G thông qua người nhận là chị dâu của chị G là bà Phạm Thị Gi đầy đủ, đúng theo quy định pháp luật nhưng chị G vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến, cũng không có đơn phản tố gửi cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình nên Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét đơn khởi kiện của anh Danh Hữu Ng về việc xin ly hôn với chị Trần Thị Cẩm G thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình được quy định tại 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình; chị G là bị đơn có nơi cư trú tại ấp Rạch Chèo, xã Rạch Chèo, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Chị Trần Thị Cẩm G đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa xét xử theo quy định nhưng chị G vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị G theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về hôn nhân: Anh Danh Hữu Ng và chị Trần Thị Cẩm G xác lập quan hệ vợ chồng, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán, có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 26/8/2019 tại Ủy ban nhân dân xã Nguyễn Việt Khái, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, có đủ điều kiện kết hôn theo luật định nên hôn nhân được chấp nhận là hợp pháp và được pháp luật công nhận, bảo vệ. Quá trình chung sống anh, chị có nhiều mâu thuẫn. Xét thực tế cuộc sống chung của anh, chị có mâu thuẫn là đúng vì theo anh N thì vợ chồng, anh, chị xảy ra mâu thuẫn thường xuyên trong nhiều

năm, mâu thuẫn đỉnh điểm vào tháng 10 năm 2023 nên anh, chị không còn quan tâm, chăm sóc, quý trọng nhau. Anh, chị đã cự cải nhiều lần, đánh nhau một lần và mỗi người sống một nơi. Trong khoảng thời gian này anh, chị không ai có biện pháp gì để khắc phục tình trạng mâu thuẫn của vợ, chồng. Bên cạnh đó, anh Ng cương quyết ly hôn, nếu không được xem xét chấp nhận cho anh ly hôn thì anh cũng không đoàn tụ, chung sống với chị G được nữa vì tình cảm vợ, chồng không còn. Đối với chị G quá trình Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay đã mời chị rất nhiều lần nhưng chị không đến Tòa án, không gửi văn bản trình bày ý kiến. Do đó, Tòa án căn cứ vào những chứng cứ mà anh Ng nộp để giải quyết vụ án là phù hợp. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống hôn nhân của anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận cho anh Ng được ly hôn với chị G.

[4] Về con chung: Anh Ng xác định anh, chị có hai người con chung tên Danh Thiên Ph, sinh ngày 25/7/2020, Danh Kiều N, sinh ngày 13/10/2022, hiện cháu Ph đang sống với anh Ng, cháu N đang sống với chị G. Khi ly hôn anh Ng yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ph, yêu cầu chị G tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N.

Xét thấy việc nuôi dạy con là quyền và nghĩa vụ của anh Ng, chị G. Giao con cho anh Ng hoặc chị G trực tiếp nuôi dạy cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của các con nhưng không phải giao con cho anh Ng, chị Gi nuôi thì người không trực tiếp nuôi con bị tước đi các quyền chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Mặc dù, anh Ng khai anh, chị đều có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dạy con và hiện tại cháu Ph đang sống với anh Ng, cháu N đang sống với chị G đã ổn định, cháu N chưa đủ 36 tháng tuổi. Xét thấy, việc anh, chị ly hôn đã phần nào ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của con nên cần phải hạn chế đến mức thấp nhất việc ảnh hưởng đời sống và bảo đảm được việc học hành, sự phát triển tốt về thể chất, tinh thần của con. Để tránh sự xáo trộn tâm lý, cuộc sống ổn định của con nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Danh Thiên Ph cho anh Ng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Danh Kiều N cho chị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh Ng, chị G không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Anh Ng, chị G không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

[5] Về tài sản chung: Anh Ng xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Về nợ chung và người khác nợ lại: Anh Ng khai vợ chồng không nợ ai và không ai nợ lại anh, chị.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Danh Hữu Ng về việc xin ly hôn chị Trần Thị Cẩm G.

2. Về con chung: Giao cháu Danh Thiên Ph, sinh ngày 25/7/2020, hiện đang sống với anh Ng cho anh Ng tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.

Giao cháu Danh Kiều N, sinh ngày 13/10/2022, hiện đang sống với chị G cho chị G tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng

Anh Ng, chị G không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh Ng, chị G không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung: Anh Ng xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Anh Ng khai vợ chồng không nợ ai và không ai nợ lại anh, chị nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình, anh Ng phải chịu 300.000 đồng. Ngày 13 tháng 5 năm 2024, anh Ng đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 0003489 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân được chuyển thu sung quỹ nhà nước.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Anh Ng có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị G có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND Tp Cà Mau;
  • - UBND xã Nguyễn Việt Khái,
  • huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)




Lê Thúy Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HNGĐ-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về hôn nhân và gia đình (xin ly hôn)

  • Số bản án: 110/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hôn nhân và gia đình (Xin ly hôn)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; 4 Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; 1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Danh Hữu Ng về việc xin ly hôn chị Trần Thị Cẩm G. 2. Về con chung: Giao cháu Danh Thiên Ph, sinh ngày 25/7/2020, hiện đang sống với anh Ng cho anh Ng tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao cháu Danh Kiều N, sinh ngày 13/10/2022, hiện đang sống với chị G cho chị G tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng Anh Ng, chị G không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh Ng, chị G không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. 3. Về tài sản chung: Anh Ng xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. 4. Về nợ chung: Anh Ng khai vợ chồng không nợ ai và không ai nợ lại anh, chị nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. 5. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình, anh Ng phải chịu 300.000 đồng. Ngày 13 tháng 5 năm 2024, anh Ng đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 0003489 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân được chuyển thu sung quỹ nhà nước. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Anh Ng có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị G có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger