|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 110/2024/HNGĐ-ST Ngày 02/7/2024 V/v tranh chấp xin ly hôn, con chung. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà NGUYỄN KIM NGỌC.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông HUỲNH VĂN THANH
Ông HUỲNH VĂN HOÀN
- Thư ký phiên tòa: Bà NGUYỄN TRẦN HỒNG NHUNG – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 178/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 về việc tranh chấp “xin ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1995 (có mặt)
- Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1991 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai cùng ngày 05/4/2024 và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích N trình bày: chị và anh Nguyễn Hữu H tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2014, có đăng ký kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H không chăm lo gia đình, bỏ về nhà cha mẹ ruột, vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2023 đến nay.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Tâm N1 sinh ngày 06/6/2015 và Nguyễn Hữu Anh K sinh ngày 29/3/2018
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay chị Nguyễn Thị Bích N xin ly hôn anh Nguyễn Hữu H, yêu cầu nuôi con chung, yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000₫ trên mỗi cháu cho đến khi các con chung trưởng thành, tròn 18 tuổi, lao động được.
Bị đơn anh Nguyễn Hữu H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét thấy, bị đơn anh Nguyễn Hữu H cư trú: ấp E, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Do đó, tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Tòa án đã triệu tập, tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa đối với bị đơn anh Nguyễn Hữu H nhưng anh vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bích N trình bày, chị và anh Nguyễn Hữu H tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2014, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 134/2014 vào ngày 19/11/2014 tại Ủy ban nhân dân xã T, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H không chăm lo gia đình, bỏ về nhà cha mẹ ruột, vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2023. Đối với bị đơn, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án hợp lệ cho anh Nguyễn Hữu H nhưng anh không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị N và anh H vắng mặt không có lý do, điều đó cho thấy anh H đã không còn quan tâm đến hôn nhân giữa anh và chị N. Xét thấy, từ khi ly thân đến nay chị N, anh H không còn quan tâm nhau nữa, tình cảm vợ chồng thật sự không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, tại phiên tòa chị N cương quyết xin ly hôn, do đó căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị N được ly hôn với anh H là phù hợp.
[3] Về con chung: Chị N và anh H có 02 con chung tên Nguyễn Thị Tâm N1 sinh ngày 06/6/2015 và Nguyễn Hữu Anh K sinh ngày 29/3/2018. Tại phiên tòa chị N trình bày, từ khi ly thân đến nay con chung do chị nuôi dưỡng, hiện nay cháu K còn nhỏ, đối với cháu N1 cũng có văn bản trình bày ý kiến mong muốn sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn, để tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý cũng như đảm bảo cuộc sống và sự phát triển bình thường của các cháu nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu N1 và cháu K cho chị N nuôi dưỡng là phù hợp theo điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về cấp dưỡng: Chị N yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đ trên một con chung cho đến khi con chung trưởng thành, tròn 18 tuổi, lao động được là phù hợp theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Bích N được ly hôn với anh Nguyễn Hữu H.
- Về con chung: Giao các cháu Nguyễn Thị Tâm N1 sinh ngày 06/6/2015 và cháu Nguyễn Hữu A Khôi sinh ngày 29/3/2018 cho chị N nuôi dưỡng.
Anh H được quyền tới thăm nom con chung không ai được cản trở anh thực hiện quyền này.
- Về cấp dưỡng: Anh Nguyễn Hữu H cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N mỗi tháng 1.000.000đ (một triệu đồng) trên mỗi cháu, cho đến khi các cháu Nguyễn Thị Tâm N1 sinh ngày 06/6/2015 và cháu Nguyễn Hữu A Khôi sinh ngày 29/3/2018 trưởng thành, tròn 18 tuổi, lao động được. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án (ngày 02/7/2024).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002572 ngày 16/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy nên xem đã thi hành xong.
- - Anh Nguyễn Hữu H phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Kim Ngọc |
Bản án số 110/2024/HNGĐ-ST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp xin ly hôn, con chung
- Số bản án: 110/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa N và H
