Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN TRE

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 110/2024/DS-ST

Ngày: 01/8/2024

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hổ

Ông Trần Văn Hưng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Diễm Thúy–Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lư Ngọc Thiên An – Kiểm sát viên.

Vào ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 348/2023/TLST- DS ngày 22/11/2023 về việc: "Tranh chấp quyền sử dụng đất”. theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2024/QĐXX-ST ngày 16 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn V; sinh năm 1930
  2. Nơi cư trú: 362/2 ấp B, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre

    Ông Huỳnh Văn V ủy quyền cho bà Phạm Kim P, sinh năm 1953 Nơi cư trú: 362/2 ấp B, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre tham gia tố tụng và quyết định mọi vấn đề có liên quan. (có mặt)

  3. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn M; sinh năm 1940 (có mặt)
  4. Nơi cư trú: 95/16 đường M, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ

  5. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    • - Bà Phạm Kim P, sinh năm 1953 (có mặt)
    • - Bà Huỳnh Thanh T, sinh năm 1988 (vắng mặt)
    • - Ông Huỳnh Thanh P1, sinh năm 1990 (có mặt)
    • - Bà Đỗ Thị Ngọc D, sinh năm 1989 (vắng mặt)

    Cùng cư ngụ: 362/2 ấp B, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre

    Bà T bà D ủy quyền cho Ông Huỳnh Thanh P1, sinh năm 1990, Nơi cư trú: 362/2 ấp B, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre tham gia tố tụng và quyết định mọi vấn đề có liên quan. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản hòa giải và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà P trình bày:

Năm 2022 khi dự án cầu R thi công xây dựng thì phần đất của ông Huỳnh Văn M thuộc thửa 343, tờ bản đồ 13, tọa lạc tại xã S thành phố B bị thu hồi diện tích 1.509,7m² (2.078m²). Ông M đã dùng phần còn lại để xây dựng nhà mồ và xây tường bao quanh trên đó có con đường tráng bê tông chiều rộng 1,8m, con đường này có từ 40 năm đến 50 năm đi vào nhà tôi và khoản 4 hộ khác. Ngoài con đường này không còn con đường nào khác. Lúc đó gia đình tôi (ông V) đã thương lượng với ông M, cụ thể: Ông M nhận của ông V một phần đất có chiều dài 24,5 ngang 2,5m = 61,25m² thuộc một phần thửa 319 tờ bản đồ 13, tọa lạc tại xã S thành phố B. Ông V nhận của ông M phần đất ngang 2m, dài 30m = 60m² thuộc một phần thửa 343 để làm đường đi cho gia đình và các hộ xung quanh. Phần đất này vẫn để nằm trên sổ đỏ của ông M. Do hai bên là anh em ruột và lớn tuổi nên hai bên không có làm giấy tờ, ông M đã đồng ý và xây tường rào trên phần đất đã đổi, đồng thời gởi bản thiết kế chừa đường đi cho gia đình chúng tôi. Hiện tại thì ông M xây tường và bít đường đi này vào tháng 9/2023. Hiện tại gia đình tôi và các hộ dân khác phải đi vòng, việc đi lại gặp rất nhiều khó khăn do đi qua đất của nhiều hộ dân khác. Nay bà xin rút một phần yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu Tòa án buộc ông M trả lại phần diện tích đã đổi với gia đình bà có diện tích 41,4m² theo kết quả đo đạc, bà yêu cầu nhận lại đất, bà không đồng ý hoàn trả chi phí cải tạo.

*Bị đơn ông M trình bày: Ông được cấp phần đất có diện tích 2.078m² thuộc thửa 343, tờ bản đồ 13, tọa lạc tại xã S thành phố B. Do dự án cầu R nên bị thu hồi diện tích 1.509,7m², còn lại 568,3m². Giữa ông và ông V không có bàn bạc việc trao đổi đất như ông V trình bày (phần đất của tôi được cấp giấy trước khi cấp cho ông V). Phần đất của ông được cấp ông giao cho ông V quản lý sử dụng từ đó đến nay, khi ông xây dựng tường rào có sự chứng kiến và đồng ý của ông V. Ông không đồng ý trả lại 61,25m² theo yêu cầu của ông V, phần đất này hiện ông đã an táng mộ của ông S, bà S của gia đình họ H. Phần đất của ông hoàn toàn không có đường đi. Năm 2014 khi ông xây dựng nhà mồ thì ông có làm đường đi cho các hộ bên trong đi. Ông đồng ý kết quả đo đạc, định giá. Ông yêu cầu tòa bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông P1 trình bày:

Ông thống nhất kết quả đo đạc, định giá và yêu cầu ông M trả lại cho gia đình ông phần đất có diện tích 41,4m². Ông yêu cầu nhận lại đất.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà T trình bày:

Bà thống nhất kết quả đo đạc, định giá. Bà yêu cầu ông M trả lại cho gia đình bà phần đất có diện tích 41,4m². Bà không có chứng kiến mà chỉ nghe kể lại.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà D trình bày:

Bà thống nhất kết quả đo đạc, định giá. Khi bà về làm dâu vào năm 2019 thì đi đường ngang nhà mồ. Bà có nghe chồng bà nói về việc đổi đất giữa ba chồng bà (ông V) và chú chồng bà (ông M). Bà chỉ nghe qua chồng bà chứ không có nghe trực tiếp. Bà vẫn giữ nguyên quan điểm như trước đây.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre phát biểu quan điểm:

  • - Ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật.
  • - Ý kiến về nội dung: Căn cứ các Điều 168 BLDS 2015; Điều 170 Luật đất đai 2013, NQ 326/30.12.2016 hướng dẫn luật phí và lệ phí:
    1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn V; cụ thể: buộc ông Huỳnh Văn M phải trả cho ông Huỳnh Văn V phần đất có diện tích qua đo đạc thực tế là 41,4m² thuộc một phần thửa 319A, tờ bản đồ số 12 tọa lạc tại xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre; trả bằng giá trị số tiền 41.400.000 đồng.
    2. Tuyên án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ông Huỳnh Văn V khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Văn M trả lại phần đất có diện tích 61,25m², nên được xác định là tranh chấp “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Phần đất này tọa lạc tại xã S thành phố B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về tư cách khởi kiện: Theo đơn khởi kiện ngày 13/4/2023, ông V có đơn khởi kiện yêu cầu ông M trả lại phần đất có diện tích 61,25 m² thuộc một phần thửa 319 tờ bản đồ 3 tọa lạc tại xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Do đó, Hội đồng xét xử xác định ông V là nguyên đơn, ông M là bị đơn, bà P, ông P1, bà D và bà T là những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[3] Về nội dung tranh chấp: Ông V khởi kiện yêu cầu ông M phải trả cho ông phần đất có diện tích 61,25m² sau đó ông rút một phần khởi kiện chỉ yêu cầu trả lại 41,4m² thuộc một phần thửa đất số 319 tờ bản đồ 13, tọa lạc tại xã S, thành phố B do ông V đứng tên quyền sử dụng đất. Ông M đồng ý với kết quả đo đạc, định giá tài sản, ông yêu cầu Tòa án bác toàn bộ yêu cầu của ông V.

Hội đồng xét xử, xét thấy:

Năm 2022 ông Vực M1 đã thương lượng với ông M1, cụ thể: Ông M1 nhận của ông V một phần đất có chiều dài 24,5 ngang 2,5m = 61,25m² thuộc một phần thửa 319 tờ bản đồ 13, tọa lạc tại xã S thành phố B. Ông V nhận của ông M1 phần đất ngang 2m, dài 30m = 60m² thuộc một phần thửa 343 để làm đường đi cho gia đình và các hộ xung quanh, hai bên là anh em ruột và lớn tuổi nên hai bên không có làm giấy tờ, ông M1 đã đồng ý và xây tường rào trên phần đất đã đổi, nhưng ông M1 không thực hiện việc giao đất cho ông V để làm đường đi. Hiện tại thì ông M1 xây tường và bít đường đi này vào tháng 9/2023.

Ông V yêu cầu ông M1 phải trả lại cho ông phần đất trên, ông yêu cầu nhận đất. Ông M1 không đồng ý trả lại cho ông V phần đất trên vì phần đất này ông đã đầu tư, tu bổ, xây dựng hàng rào, và an táng mộ của ông S, bà S của các ông.

Ông V thì cho rằng trước đây, khi có dự án xây dựng cầu R thì ông Huỳnh Văn M là chủ sử dụng thửa đất số 343, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre, đất có diện tích 2.078m². Ông M bị thu hồi một phần đất diện tích 1.509,7m², còn lại 568,3m² đất thuộc thửa 343, tờ bản đồ số 13. Quá trình hòa giải, ông Huỳnh Văn M thừa nhận ông là chủ sử dụng thửa đất số 343, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre, đất có diện tích 2.078m², ông M đã bị thu hồi một phần đất dự án xây dựng cầu R diện tích phần đất còn lại là 568,3m² – BL: 60-61;102-103 phần diện tích đất còn lại được ông M thừa nhận là 568,3m² nên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 92 BLTTDS 2015 nhận thấy đây thuộc trường hợp là những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh. Theo kết quả đo đạc ngày 07/5/2024 thể hiện thửa 343, tờ bản đồ số 13 theo sự chỉ ranh của ông M có diện tích 988,7m² (gồm thửa 335B + 343A + 343B + 319B) – BL: 93. diện tích đất sử dụng thực tế của ông M có sự chênh lệch tăng so với diện tích còn lại sau khi ông M bị thu hồi 988,7m² – 568,3m² = 420,4m². Căn cứ vào hồ sơ đo đạc theo sự chỉ dẫn của nguyên đơn, bị đơn thấy rằng phần đất hiện tại ông Huỳnh Văn M đang sử dụng có diện tích 41,4m² thuộc thửa tạm 319B do ông Huỳnh Văn V đứng tên quyền sử dụng đất. Tại khoản 1 Điều 170 Luật đất đai 2013 quy định về nghĩa vụ chung của người sử dụng đất thì người sử dụng đất phải sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất... Thấy rằng diện tích đất thuộc thửa 343, tờ bản đồ số 13 do ông Huỳnh Văn M đứng tên quyền sử dụng đất sau khi bị thu hồi còn lại 568,3m² và diện tích đất thực tế mà ông M đang quản lý, sử dụng không phù hợp với nhau. Ông M không chứng minh vì sao có sự chênh lệch tăng diện tích sử dụng đất thực tế, cũng như không chứng minh được phần đất tranh chấp thuộc thửa 319B có diện tích 41,4m² nằm trong phần đất ông M quản lý sử dụng. Căn cứ Điều 170 Luật đất đai 2013 thấy ông Huỳnh Văn M sử dụng phần đất có diện tích 41,4m² là vượt quá phần diện tích ông M được cấp phép sử dụng.

Tại đơn khởi kiện ông V yêu cầu ông M phải trả lại phần đất có diện tích là 61,25m², tuy nhiên sau khi đo đạc thì diện tích của ông bị thiếu so với giấy chứng nhận là 19,85m² nên ông đã rút yêu cầu đối với phần đất có diện tích là 19,85m² việc rút đơn của ông là hoàn toàn tự nguyện nên được chấp nhận. Do đó nghĩ nên đình chỉ một phần khởi kiện. Ông V yêu cầu ông M trả lại phần đất có diện tích 41,4m² thuộc 319 tờ bản đồ 13 tọa lạc tại xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre là có cơ sở nghĩ nên chấp nhận.

Theo kết quả xem xét thẩm định tại chổ thì trên phần đất đang tranh chấp có diện tích 41,4m² tọa lạc tại xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Giá đất CLN theo biên bản định giá ngày 07/5/2024 là 1.000.000đồng /m².

Ông V yêu cầu ông M trả lại đất nhưng trên phần đất này ông M đã san lấp mương, xây dựng hàng rào trụ đá bê tông cốt thép, tường xây gạch dày 10cm, cao 3,2m kiên cố vây quanh; 01 nhà vệ sinh cột bê tông, tường xây gạch, ốp gạch khoảng 1,8m, nền lát gạch ceramic, mái tole tráng kẽm diện tích 08m², nhà tạm ký hiệu T1 có diện tích 10,1m² cũng như có 02 ngôi mộ gạch - BL: 79-80;88. Do ông M đã xây dựng các công trình kiến trúc kiên cố trên đất, không thể di dời hoặc tháo dỡ, phần tài sản trên đất có giá trị cao hơn so với giá trị đất, việc tháo dỡ hàng rào, các công trình trên đất sẽ gây ảnh hưởng, thiệt hại về tài sản cho các bên nên thấy cần thiết tuyên buộc ông M trả 41,4m² đất bằng giá trị là phù hợp.

[4] Đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 12 Nghị quyết 326/2019/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án M được miễm.

[6] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản là 14.004.000đồng (Mười bốn triệu không trăm lẽ bốn ngàn đồng). ông M phải chịu. Ông V đã đóng nên ông M phải thanh toán lại cho ông V số tiền trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 166, 168, 175, 176, 584, 585, 589 của Bộ Luật dân sự năm 2005;

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 160 ; điểm đ khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 12; 166; 167; 170; 188 Luật đất đai 2013

Căn cứ vào Điều 48 Nghị quyết 326/2019/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Văn V, cụ thể tuyên:

1. Ông Huỳnh Văn M được trọn quyền sử dụng phần đất có diện tích 41,4m² thuộc 319B tờ bản đồ 13 tọa lạc tại xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Ông Huỳnh Văn M phải trả lại cho ông Huỳnh Văn V số tiền là 41.400.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu bốn trăm ngàn đồng)

Kiến nghị cơ quan chức năng điều chỉnh phần đất có diện tích là phần đất có diện tích 41,4m² thuộc 319 tờ bản đồ 13 tọa lạc tại xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre từ ông Huỳnh Văn V sang tên ông Huỳnh Văn M.

Ông Huỳnh Văn M được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên.

(Có họa đồ vị trí các thửa đất kèm theo).

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông V đối với phần đất có diện tích 19,85m² thuộc thửa 319 tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại xã S thành phố B, tỉnh Bến Tre.

2. Ông M phải trả lại cho ông V tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản là 14.004.000đồng (Mười bốn triệu không trăm lẽ bốn ngàn đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi thành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Án phí dân sự sơ thẩm ông M được miễn.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre (P.KTNV);
  • - VKSND TP. Bến Tre, T.Bến Tre;
  • - Chi cục THADS TP. Bến Tre, T.Bến Tre;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Duy Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/DS-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 110/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger