|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 110/2025/HS-ST |
|
|
Ngày: 30/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Từ
Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hải Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Thanh Cảnh, ông Mai Xuân Thường, ông Phan Hải Thanh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 30/6/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2025/TLST-HS ngày 09/4/2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 132/2025/QĐXXST-HS ngày 16/6/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Mai Thị H, sinh năm 1977, tại: xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Viết S và bà Vũ Thị Q (đã chết); Có chồng Hồ Thúc B, sinh năm 1981 (đã ly hôn) và 02 con (sinh năm 2011 và 2014); Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 30/5/2016 bị Công an huyện Q xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 6.000.000 đồng về hành vi khai thác đất trái phép; đã nộp phạt ngày 30/5/2016; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/01/2025 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Tạ Thị A – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh N – chi nhánh S1. Có mặt.
- Bị hại:
- Ông Phan Văn T, sinh năm 1965, trú tại xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1962, trú tại xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Chị Đậu Thị H2, sinh năm 1995, trú tại xóm G, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người làm chứng:
- + Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1970. Địa chỉ: xóm G, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- + Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1967. Địa chỉ: xóm G, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 21/6/2021 đến ngày 14/11/2024, mặc dù không có chức năng nhiệm vụ gì trong việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, biết các thửa đất không thể chuyển đổi được mục đích sử dụng nhưng do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Mai Thị Đ ra thông tin bản thân chuyển đổi được mục đích sử dụng các loại đất để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 03 bị hại. Cụ thể:
1. Đối với ông Phan Văn T, sinh năm 1965, trú tại xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Vào đầu năm 2021, thông qua việc Mai Thị H đã làm thủ tục cấp đổi được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (cấp lại bìa đỏ sang bìa hồng) cho gia đình ông Phan Văn T. Đến tháng 6/2021, ông T tiếp tục nhờ H chuyển đổi 200m² của thửa đất số 9, tờ bản đồ số 25, diện tích 434,3m² tại xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An được UBND huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP885937 cấp ngày 01/10/2019 mang tên ông Phan Văn T và bà Phan Thị T1 là loại đất trồng cây hàng năm khác sang đất ở; sau khi chuyển đổi được 200m² này sang đất ở thì nhập vào 02 (hai) thửa đất số 125, tờ bản đồ 25, diện tích 257,3m² và thửa đất số 8, tờ bản đồ số 25, diện tích 473,8m², đều thuộc địa chỉ: xóm H, xã Q, huyện Q lại thành 01 thửa lớn rồi tách thành 03 thửa đất khác cho ông Phan Văn T và 02 người con của ông T. Mặc dù H không có chức năng nhiệm vụ gì trong việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, biết thửa đất không chuyển được sang mục đích đất ở nhưng H vẫn nói với ông T là H chuyển đổi được mục đích sử dụng sang đất ở với giá 115.000.000 đồng. Ông T đồng ý. H đã yêu cầu ông T chuyển tiền cho H để làm các thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây hàng năm sang đất ở và làm các thủ tục nhập và tách thửa. Tin tưởng lời nói của H là thật nên ông T đã đưa cho H 06 lần với tổng số tiền là 199.000.000 đồng. Sau mỗi lần nhận tiền, H có viết 05 "Giấy nhận tiền", 01 lần không viết "Giấy nhận tiền", cụ thể: ngày 21/06/2021, số tiền 15.000.000 đồng; ngày 15/08/2021, số tiền 30.000.000 đồng; ngày 07/09/2021, số tiền 50.000.000 đồng; Không ghi ngày tháng cụ thể số tiền 20.000.000 đồng (có viết giấy giao nhận tiền nhưng không đề ngày); ngày 14/11/2024, số tiền 50.000.000 đồng và tháng 11/2023 số tiền 34.000.000 đồng (không nhớ ngày và không viết giấy giao nhận tiền); Sau khi nhận tiền của ông T, H không liên hệ với ai và không đưa tiền cho ai để làm thủ tục chuyển đổi đất mà sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
2. Đối với bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1962, trú tại xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An và chị Đậu Thị H2, sinh năm 1995, trú tại xóm G, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (là hai mẹ con ruột).
Vào đầu tháng 2/2022, thông qua ông Phan Văn T2, sinh 1972, trú tại xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (là xóm trưởng) nên bà Nguyễn Thị H1 biết Mai Thị H. Sau đó, H nhận làm thủ tục cấp đổi thửa đất số 70, tờ bản đồ số 26, diện tích 440,0m² tại xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An mang tên Đậu Văn V1 (là chồng bà H1 nhưng đã chết) từ bìa đỏ sang bìa hồng và tách thành 03 bìa cho bà H1 và hai người con của bà H1. Sau khi thấy H nhận và đang làm thủ tục chuyển đổi được thửa đất nêu trên nên bà H1 tiếp tục nhờ H chuyển đổi mục đích sử dụng thửa đất số 444, tờ bản đồ số 12, diện tích 1.143,3m2 tại đồng C (cạnh nhà văn hóa xóm H3), xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An mang tên ông Đậu Văn V1 và bà Nguyễn Thị H1 được UBND huyện Q, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H281724 ngày 01/01/2016, đất chuyên trồng lúa nước sang đất ở. Với thủ đoạn như đối với ông Phan Văn T, mặc dù không có chức năng nhiệm vụ gì trong việc chuyển đổi đất, biết thửa đất số 444 là loại đất LUC đang quy hoạch đất lúa; không được quy hoạch đất ở hay đất kinh doanh nhưng H vẫn cam kết với bà H1 sẽ chuyển đổi thành đất dự án 50 năm rồi lại chuyển thành đất ở. Thời hạn có bìa vào tháng 10/2023. Bà H1 đồng ý. Thời điểm này, chị Đậu Thị H2, sinh năm 1995, trú tại xóm G, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (là con gái của bà H1, sinh con nhỏ về ở tại nhà bà H1) chứng kiến toàn bộ việc trao đổi giữa bà H1 và H trong việc chuyển đổi mục đích đất. Do bà H1 không đủ tiền nên đã nói với chị H2 cùng chung tiền với bà H1 để nhờ H chuyển đổi mục đích đất, sau khi chuyển đổi được, bà H1 sẽ chia một phần đất cho chị H2. Chị H2 đồng ý. Sau đó, H nhiều lần yêu cầu bà H1 và chị H2 chuyển tiền cho H để chi phí trong việc chuyển đổi đất. Tin tưởng lời nói của H là thật nên bà H1 và chị H2 chuyển tiền theo yêu cầu của H.
Theo lời khai của bà Nguyễn Thị H1, Mai Thị H nhận làm thủ tục chuyển đổi đối với thửa đất số 70, tờ bản đồ số 26, diện tích 440,0m² H yêu cầu bà H1 chuyển cho H số tiền 45.000.000 đồng. Do không có tiền mặt, bà H1 đưa cho H 13 chỉ vàng để H tự đi bán lấy tiền. H lấy đủ số tiền thỏa thuận và đưa lại cho bà H1 số tiền 3.700.000 đồng là tiền thừa bán vàng. Hai bên không lập "Giấy giao nhận tiền, vàng". Sau đó, bà H1 nhờ và chuyển tiếp cho H 02 lần bằng tiền mặt với tổng số tiền 390.000.000 đồng để làm thủ tục đối với thửa đất số 444. Hai bên không lập "Giấy giao nhận tiền" nhưng đều có người chứng kiến, cụ thể: Lần thứ nhất vào ngày 27/02/2022, tại nhà của bà H1, bà H1 đã đưa cho H 200.000.000 đồng, có ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1967, trú tại xóm G, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (là thông gia với bà H1) và chị Đậu Thị H2 (là con gái của bà H1) chứng kiến; Lần thứ hai vào ngày 27/10/2022, tại chân cầu vượt thuộc thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghê An, bà H1 đưa cho H số tiền 190.000.000 đồng, có chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1970, trú tại xóm G, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An chứng kiến.
Mai Thị H chỉ thừa nhận, bà H1 giao cho H 02 lần tiền mặt với tổng số tiền 290.000.000 đồng để làm các thủ tục đất, cụ thể: lần thứ nhất 100.000.000 đồng và lần thứ 2 là 190.000.000 đồng. Trong số tiền 290.000.000 đồng này, H phải lấy 45.000.000 đồng là khoản tiền chi phí do H chuyển đổi được thửa đất số 70, tờ bản đồ số 26, diện tích 440,0m² thành 03 bìa cho gia đình bà H1 như đã thống nhất. H đang cầm số tiền còn lại của bà H1 là 245.000.000 đồng, H đã sử dụng chi tiêu hết.
Do bà Nguyễn Thị H1 và Mai Thị H còn mâu thuẫn về thời điểm bà H1 thanh toán số tiền 45.000.000 đồng cho H sau khi làm thủ tục thửa đất số 70 và số tiền bà H1 chuyển cho H vào ngày 27/02/2022 tại nhà bà H1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành đối chất giữa bà H1 và H nhưng các bên vẫn giữ nguyên lời khai của mình. Ông Nguyễn Văn N khai là người cho bà H1 vay 200.000.000 đồng nhưng không thấy việc bà H1 đưa số tiền này cho H. Bà H1 không cung cấp được tài liệu chứng minh việc giao và trả tiền cho H. Lời khai của H phù hợp về số lần, hình thức, địa điểm và mục đích giao, nhận tiền của bà H1 với lời khai của bà H1 và những người liên quan. Do đó, có đủ căn cứ kết luận Mai Thị H chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị H1 số tiền là 245.000.000 đồng.
Chị Đậu Thị H2 đã sử tài khoản số [...] của Ngân hàng K1 và tài khoản số [...] của Ngân hàng V2 mang tên Đậu Thị H2 chuyển 17 (mười bảy) lần chuyển khoản qua tài khoản số [...] của Ngân hàng V2 mang tên Mai Thị H với tổng số tiền là 448.000.000 đồng. Cụ thể: ngày 10/02/2022, chuyển số tiền 10.000.000 đồng; ngày 18/02/2022, chuyển số tiền 50.000.000 đồng; ngày 28/02/2022, chuyển số tiền 100.000.000 đồng; ngày 01/03/2022, chuyển số tiền 23.000.000 đồng; ngày 27/12/2022, chuyển số tiền 50.000.000 đồng; ngày 10/01/2023, chuyển số tiền 30.000.000 đồng; ngày 19/02/2023, chuyển số tiền 20.000.000 đồng; ngày 24/02/2023, chuyển số tiền 30.000.000 đồng; Ngày 03/3/2023, chuyển số tiền 5.000.000 đồng; ngày 26/3/2023, chuyển số tiền 30.000.000 đồng; ngày 07/4/2023, chuyến số tiền 20.000.000 đồng; ngày 11/4/2023, chuyển số tiền 10.000.000 đồng; ngày 29/4/2023, chuyển số tiền 15.000.000 đồng; ngày 05/02/2023, chuyển số tiền 5.000.000 đồng; ngày 08/12/2023, chuyển số tiền 50.000.000 đồng.
Sau khi nhận của bà Nguyễn Thị H1 và chị Đậu Thị H2 với tổng số tiền 693.000.000 đồng. Theo lời khai của H, H đưa cho 01 người đàn ông tên "T3" ở thành phố V với số tiền hơn 600.000.000 đồng để làm các thủ tục chuyển đổi đất cho bà H1 và chị H2. Số tiền còn lại, H sử dụng đi lại và chi tiêu cá nhân hết. H không cung cấp được lai lịch địa chỉ cụ thể của người đàn ông tên "Thành" và các tài liệu chứng minh việc H đưa tiền. Do đó, lời khai của H là không có căn cứ.
Như vậy, tổng số tiền Mai Thị H lừa đảo, chiếm đoạt của ông Phan Văn T, bà Nguyễn Thị H1 và chị Đậu Thị H2 là 892.000.000 đồng (tám trăm chín mươi hai triệu đồng).
* Tại Công văn số 153/CV-CNVP ngày 05/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Q, tỉnh Nghệ An có nội dung:
“1. Thửa đất sản xuất nông nghiệp số 444, tờ bản đồ số 12 (BĐ số), diện tích 1143.3m², địa chỉ cạnh nhà văn hóa xóm H3, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An thuộc sở hữu của gia đình ông Đậu Văn V1 và bà Nguyễn Thị H1 theo đề án dồn đền đổi thửa năm 2013 của UBND xã Q. Gia đình ông Đậu Văn V1 được UBND huyện Q cấp GCNQSD đất số H 281724 cấp ngày 01/01/1996.
2. Thửa đất số 444, tờ bản số 12 (BĐ số), diện tích 1143.3m² đất chuyên trồng lúa nước, địa chỉ tại đồng Cầu G, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An chưa chuyển đổi mục đích từ đất sản xuất nông nghiệp thành đất dự án 50 năm.
3. Trong thời gian từ tháng 02/2022 đến tháng 12/2023 không có người nào có tên Mai Thị H, sinh năm 1977, trú tại xóm C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An đến Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Q để nộp hồ sơ, làm các thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất sản xuất nông nghiệp thành đất dự án 50 năm đối với thửa đất nói trên."
* Tại Công văn số 1692/UBND-TNMT ngày 26/6/2024 của Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An có nội dung:
“... Theo hồ sơ quản lý, cụ thể tại Bản đồ địa chính 2016 thể hiện thửa đất số 444, tờ số 12, diện tích 1.143,3m² loại đất LUC (đất chuyên trồng lúa nước, chủ sử dụng là bà Nguyễn Thị H1
- Theo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 của huyện Q được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định 363/QĐ-UBND ngày 21/9/2022, vị trí thửa đất số 444, tờ số 12, diện tích 1.143,3m² loại đất LUC đang quy hoạch đất lúa; không được quy hoạch đất ở hay đất kinh doanh.
* Tại Công văn số 598/UBND-NNMT ngày 11/3/2025 của Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An có nội dung:
“... Theo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 của huyện Q được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 363/QĐ-UBND ngày 21/9/2022, vị trí thửa đất số 9, tờ số 25, diện tích 434,3m², loại đất BHK (nay là HNK) được quy hoạch đất ở nông thôn...
- Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của huyện Q (từ năm 2021 đến nay) thửa đất số 9, tờ số 25, diện tích 434,3m², loại đất BHK (nay là HNK) không có trong kế hoạch chuyển mục đích sử dụng đất sang loại đất ở hay thực hiện dự án chia lô đất ở dân cư.
Theo quy định tại Điều 52 Luật đất đai năm 2013 thì thửa đất số 9, tờ số 25, nêu trên không đủ điều kiện để chuyển mục đích sang đất ở.
Theo quy định tại Khoản 3, Điều 116 Luật đất đai năm 2024 thì thửa đất số 9, tờ số 25, nêu trên chưa được phê duyệt thực hiện dự án và chưa được cơ quan có thẩm quyền kết luận thửa đất nông nghiệp trong khu dân cư. Do đó, thửa đất chưa đủ điều kiện chuyển mục đích sang đất ở.
3. Nội dung 3: Từ năm 2021 đến nay, UBND huyện Q chưa tiếp nhận và xử lý thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với thửa đất số 9, tờ bản đồ số 25, diện tích 434,3m² tại xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An sang đất ở nông thôn..."
* Tại Bản kết luận giám định số 36/KL-KTHS(Đ3-TL) ngày 07/3/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh N kết luận:
“- Chữ ký mang tên Mai Thị H, chữ viết trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1; chữ viết trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2; chữ ký mang tên Mai Thị H, chữ viết (Trừ chữ viết "Phan Văn T" dưới mục "Người giao", chữ viết "Phan Văn T" bằng mực màu đen, chữ viết "Phan Văn T" tại mặt sau) trên tài liệu cần giám định ký hiệu A3 so với chữ ký, chữ viết của Mai Thị H trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M15 là do cùng một người ký, viết ra.
- Chữ viết "Phan Văn T" dưới mục "Người giao", chữ viết "Phan Văn T" bằng mực màu đen, chữ viết "Phan Văn T" tại mặt sau trên tài liệu cần giám định ký hiệu A3 so với chữ viết của Mai Thị H trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 đến M15 không phải do cùng một người viết ra.”
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- + 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S23 Ultra, màu đen, xanh, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng tím, đã qua sử dụng.
- + 01 Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại SH Mode, màu đỏ nâu, Biển số 37L2-338.99, đã qua sử dụng.
- + 01 (một) chiếc nhẫn tròn, kim loại màu vàng, mặt trong chiếc nhẫn có khắc dòng chữ “Tâm Đ1”, không xác định trọng lượng, chất lượng;
- + 15 tờ tiền Việt Nam đồng, mệnh giá mỗi tờ là 500.000 đồng. Tổng cộng số tiền là 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng);
- + 29 (Hai mươi chín) bộ giấy tờ tài liệu về đất đai.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N trả chiếc xe máy; 01 chiếc nhẫn tròn, kim loại màu vàng, mặt trong chiếc nhẫn có khắc dòng chữ “Tâm Đ1”, không xác định trọng lượng, chất lượng và 15 tờ tiền Việt Nam đồng, mệnh giá mỗi tờ là 500.000 đồng, tổng số tiền là 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) cho bị cáo Mai Thị H để bị can khắc phục hậu quả cho bà Nguyễn Thị H1; trả 29 giấy tờ tài liệu về đất đai cho các chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với 02 chiếc điện thoại hiện đang được bảo quản tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- - Bị hại chị Đậu Thị H2 giao nộp 01 USB màu đen, nhãn hiệu hoco.4GB; tài liệu sao kê tài khoản, hợp đồng tín dụng. Hiện được lưu tại hồ sơ vụ án.
- - Bị hại ông Phan Văn T giao nộp 05 tài liệu "Giấy nhận tiền" làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phan Văn T. Hiện được lưu tại hồ sơ vụ án.
* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, ông Phan Văn T yêu cầu bị cáo Mai Thị H trả lại số tiền chiếm đoạt 199.000.000 đồng. Hiện Mai Thị H chưa bồi thường cho ông T được số tiền nào). Bà Nguyễn Thị H1 yêu cầu bị cáo Mai Thị H trả lại số tiền là 390.000.000 đồng. H đã giao các tài sản, gồm: tiền mặt, vàng, xe máy do Cơ quan điều tra trả lại cho bà H1. Hai bên thống nhất các tài sản có trị giá 75.500.000 đồng. Bà H1 yêu cầu bị cáo H phải trả tiếp số tiền còn lại là 314.500.000 đồng (Ba trăm mười bốn triệu năm trăm ngàn đồng). Chị Đậu Thị H2 yêu cầu bị cáo Mai Thị H phải trả lại cho chị H2 số tiền 448.000.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi tám ngàn đồng) và tiền lãi suất phát sinh theo quy định. Hiện Mai Thị H chưa trả lại cho chị H2 được số tiền nào.
Tại Bản Cáo trạng số 80/CT-VKSNA-P2 ngày 03/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh nghệ A truy tố bị cáo Mai Thị H về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo Mai Thị H lười lao động, bỏ đi khỏi nơi cư trú đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Mai Thị H từ 12 năm đến 13 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại, buộc bị cáo Mai Thị H phải trả lại cho ông Phan Văn T số tiền 150.000.000 đồng; trả cho bà Nguyễn Thị H1 số tiền 150.000.000 đồng, trả cho chị Đậu Thị H2 số tiền 350.000.000 đồng.
Về vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Samsung Galaxy; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại OPPO nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo, bà Tạ Thị A không tranh luận về tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo; chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo khai báo thành khẩn, bị cáo đã nhận thức được hành vi sai trái của mình; bị cáo có ông nội, bố bị cáo có công với các mạng, các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, đã tự nguyện bồi thường khắc phục thiệt hại cho bà H1 số tiền 75.500.000 đồng; hoàn cảnh gia đình khó khăn, đã ly hôn chồng, một mình nuôi 02 con nhỏ bị tàn tật nặng không tự sinh hoạt được. Đề nghị áp dụng điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất của khung hình phạt.
Bị cáo Mai Thị H đồng ý với ý kiến người bào chữa và thống nhất với yêu cầu bồi thường của các bị hại, bị cáo tranh luận thêm, bị cáo không đi khỏi nơi cư trú, bị cáo không lười lao động. Bị cáo đi làm để kiếm tiền nuôi con. Đối với hồ sơ chuyển đổi đất của ông Phan Văn T bị cáo chưa làm được là do UBND xã nói đang tạm dừng, còn đối với hồ sơ chuyển đổi đất của bà H1 bị cáo không làm nữa là do bà H1 đề nghị không làm nữa do tiền đã sử dụng làm nhà hết nên không có tiền để chuyển đổi đất nữa.
Các bị hại không tranh luận, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Yêu cầu bị cáo trả lại cho ông Phan Văn T số tiền 150.000.000 đồng; trả cho bà Nguyễn Thị H1 số tiền 150.000.000 đồng, trả cho chị Đậu Thị H2 số tiền 350.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát tranh luận: Bị cáo đã được cơ quan điều tra triệu tập làm việc nhiều lần nhưng luôn vắng mặt nên cơ quan Điều tra đã bắt tạm giam bị cáo.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo Mai Thị H đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo sớm trở về nuôi con và bồi thường thiệt hại cho các bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các quyết định và hành vi tố tụng: quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Điều tra Công an tỉnh N, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Mai Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố nhưng bị cáo cho rằng bị cáo chưa chuyển đổi đất được cho ông Phan Văn T là do UBND xã đang tạm dừng, còn đối với bà Nguyễn Thị H1, bị cáo chưa chuyển đổi đất được là do bà H1 làm nhà hết tiền nên không làm nữa nhưng bị cáo không có chứng cứ chứng minh, các bị hại cũng không thừa nhận. UBND huyện Q, UBND xã Q, Văn phòng đăng ký đất đai huyện Q đều xác nhận trong khoảng thời gian từ tháng 02/2022 đến tháng 12/2023, không có người nào có tên Mai Thị H, sinh năm 1977, địa chỉ: xóm C, xã Q, huyện Q tỉnh Nghệ An đến UBND huyện Q, UBND xã Q, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Q làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất sản xuất nông nghiệp thành đất dự án 50 năm hoặc đất ở đối với thửa đất số 444, tờ bản đồ số 12; thửa đất số 9, tờ bản đồ số 25, tại xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An và các thửa đất này không đủ điều kiện để chuyển đổi sang đất ở hoặc đất kinh doanh. Bản thân bị cáo cũng thừa nhận các thửa đất này không chuyển đổi được sang đất ở hoặc đất 50 năm và bị cáo cũng chưa nộp hồ sơ chuyển đổi đất cho bất cứ cơ quan nào. Bị cáo khai số tiền nhận từ bà H1 và chị H2, bị cáo đã đưa cho một người đàn ông tên T3 ở thành phố V hơn 600.000.000 đồng nhưng không có chứng cứ chứng minh. Vì vậy có đủ cơ sở khẳng định: Do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên bị cáo Mai Thị H đưa ra thông tin không đúng sự thật là bản thân có khả năng chuyển đổi được mục đích đất trồng cây hàng năm sang mục đích đất ở; đất sản xuất nông nghiệp (đất trồng lúa) sang mục đích sử dụng đất dự án 50 năm và sang mục đích đất ở. Bị cáo đưa ra các khoản phải chi phí và mức tiền phải nộp. Các bị hại tin lời bị cáo nói là thật nên đã chuyển tiền cho bị cáo nhiều lần để nhờ bị cáo chuyển đổi mục đích sử dụng đất và làm các thủ tục nhập và tách thửa. Với thủ đoạn đó, từ ngày 21/06/2021 đến ngày 14/11/2024, bị cáo Mai Thị H đã gian dối chiếm đoạt của 03 bị hại với tổng số tiền 892.000.000 đồng (T4 trăm chín mươi hai triệu đồng), trong đó chiếm đoạt của ông Phan Văn T số tiền là 199.000.000 đồng; của bà Nguyễn Thị H1 số tiền 245.000.000 đồng; của chị Đậu Thị H2 số tiền 448.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo Mai Thị H đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản có trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét hành vi, tính chất phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo Mai Thị H là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân. Bị cáo ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền để thỏa mãn mục đích cá nhân mà bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của người khác. Bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt số lượng tiền lớn; phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó, cần xử phạt bị cáo nghiêm minh nhằm trừng trị và cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Tuy nhiên xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại bà Nguyễn Thị H1; gia đình của bị cáo có ông nội là ông Mai Viết T5 được tặng 65 năm tuổi Đảng; có bố đẻ là ông Mai Viết S có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ được UBND tỉnh N tặng Bằng khen; gia đình bị cáo có hành cảnh khó khăn, đã ly hôn chồng, một mình nuôi hai con đều bị tàn tật câm điếc bẩm sinh và bị bệnh đao; sau khi bị cáo bị tạm giam thì các con bị cáo phải gửi vào Trung tâm Bảo trợ xã hội; hiện nay cháu đầu đã được bố đón về nuôi. Do đó áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức án khởi điểm của khung hình phạt như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy gia đình bị cáo khó khăn, đang nuôi con bị tàn tật nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- + 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S23 Ultra, màu đen, xanh, cũ đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu oppo màu trắng tím, cũ đã qua sử dụng không liên quan đến vụ án cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để thi hành án.
- + 01 Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, màu đỏ nâu, Biển số 37L2-338.99; 01 chiếc nhẫn tròn, kim loại màu vàng; số tiền 7.500.000 đồng cơ quan điều tra đã trả cho bị cáo để bồi thường cho bị hại bà Nguyễn Thị H1 và 29 (Hai mươi chín) bộ giấy tờ tài liệu về đất đai đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp là đúng pháp luật.
- + 01 (một) USB màu đen và tài liệu sao kê tài khoản, hợp đồng tín dụng do chị Đậu Thị H2 giao nộp liên quan đến vụ án đã được lưu tại hồ sơ vụ án.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo và các bị hại thỏa thuận, bị cáo phải trả lại cho ông Phan Văn T 150.000.000 đồng, trả cho bà Nguyễn Thị H1 150.000.000 đồng, trả cho chị Đậu Thị H2 350.000.000 đồng. Sự thỏa thuận giữa bị cáo và các bị hại là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên được chấp nhận.
[8] Trong vụ án này, theo lời khai của bà Nguyễn Thị H1: ông Phan Văn T2, sinh năm 1972, trú tại xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (là xóm trưởng) là người giới thiệu bà Mai Thị H cho bà Nguyễn Thị H1 để làm thủ tục chuyển đổi mục đích đất. Ông T2 không biết được mục đích phạm tội của H, không được hưởng lợi gì nên ông Phan Văn T2 không đồng phạm với Mai Thị H.
[9] Đối với anh Vũ Quốc K, sinh năm 1993, trú tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An: ngày 27/12/2022, sau khi chiếm đoạt của chị Đậu Thị H2 50.000.000 đồng, H đã chuyển số tiền chiếm đoạt này vào tài khoản của anh K và nhờ anh K rút tiền mặt đưa lại cho H. Anh K đã rút toàn bộ số tiền và đưa cho H. Anh K không biết được nguồn gốc số tiền H chuyển vào tài khoản của mình do phạm tội mà có, không được hưởng lợi gì. Do đó hành vi của anh K không cấu thành tội phạm.
[10] Về án phí: Buộc bị cáo Mai Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Mai Thị H 12 (Mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo, ngày 13/01/2025.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Mai Thị H.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 589 của Bộ luật Dân sự; Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và các bị hại như sau: Bị cáo Mai Thị H phải trả cho ông Phan Văn T số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng); trả cho bà Nguyễn Thị H1 số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), trả cho chị Đậu Thị H2 số tiền 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng). Tổng cộng 650.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về vật chứng:
- + Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S23 Ultra, màu đen, xanh, cũ đã qua sử dụng.
- + Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu oppo màu trắng tím, cũ đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để thi hành án.
Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/4/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Về án phí: Buộc bị cáo Mai Thị H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Bị cáo, các bị hại có quyền kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Từ |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THẨM PHÁN Nguyễn Thị Hải Minh |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Từ |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
|
Dương Thanh Cảnh |
Mai Xuân Thường |
Phan Hải Thanh |
Bản án số 110/2025/HS-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 110/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Thị H - Lừa đảo
