|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 110/2025/HS-ST Ngày: 30 – 5 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Văn Quang Bình;
- Bà Nguyễn Thị Thắm;
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thiện Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2025/TLST - HS ngày 17 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2025/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:
Huỳnh Trọng P; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1987, tại tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố B, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: Khu phố B, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Trọng N, sinh năm: 1958 và bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm: 1965;
Tiền án:
- Ngày 29/6/2009, Tòa án nhân dân huyện Bến Cát (nay là thành phố Bến Cát) xử phạt 08 tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 138/2009/HSST;
- Ngày 29/8/2012, Tòa án nhân dân huyện Bến Cát (nay là thành phố Bến Cát) xử phạt 08 (tám) tháng tù, về tội “Đánh bạc” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 156/2012/HSST; bị cáo có đơn kháng cáo. Ngày 12/11/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương y án sơ thẩm theo Bản án hình sự phúc thẩm số 177/2012/HS –PT;
- Ngày 05/8/20014, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát (nay là thành phố Bến Cát) xử phạt 06 năm tù, về các tội: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2014/HSST;
- Ngày 17/6/2021, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát (nay là thành phố Bến Cát) tuyên xử phạt 02 năm tù, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 89/2021/HSST.
Tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 08/01/2025 và tạm giam đến nay. Có mặt
Bị hại: Anh Trương Văn S, sinh năm: 1984; địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nơi tạm trú: Số C, nhà trọ Trần Ngọc H, đường L, tổ A, khu D, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trương Văn C, sinh năm: 1946; địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; vắng mặt
Người làm chứng: Anh Phạm Văn V, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 08/01/2025, Huỳnh Trọng P đi bộ từ nhà (khu phố B, phường M, thành phố B) đến khu vực phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương với mục đích tìm bạn tên P1 (không rõ lai lịch) để mượn tiền tiêu xài. Khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày, P đi đến đoạn đường HL108 thuộc khu phố P, phường H, do quên đường nên P không tìm thấy nhà trọ nơi P1 thuê ở. Khi P đang đi bộ trên đường HL108 thì nhìn thấy 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 66N1-038.24 của anh Trương Văn S (sinh năm 1984, nơi thường trú: ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp) dựng ở sát lề đường, chìa khoá cắm sẵn trong ổ khoá của xe. Phía trước cách khoảng 100 mét, anh Trương Văn S đang thi công lắp bóng đèn trên cây trụ điện, còn anh Phạm Văn V (sinh năm 1987, nơi thường trú: ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang) phụ trách công việc khuân vác vật dụng, kéo dây điện phía dưới mặt đất. P quan sát xung quanh thấy không có người đứng gần nên nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe mô tô biển số 66N1-038.24 của anh S. P đi đến ngồi lên xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 66N1-038.24, mở chìa khoá khởi động máy rồi điều khiển chạy đi.
Lúc này, anh Phạm Văn V đang đi bộ đến vị trí dựng xe mô tô hiệu Honda Future, biển số 68D1-480.43 của anh V để lấy thêm dụng cụ hành nghề (xe của anh V dựng song song với xe của anh S, cách P khoảng 50 mét) thì nhìn thấy P ngồi lên xe của anh S điều khiển chạy đi nên anh V đã điều khiển xe mô tô Honda Future, biển số 68D1-480.43 chạy đuổi theo phía sau xe P. Khi P chạy được khoảng 30 mét thì rẽ trái vào đường nhựa nông thôn, P quay đầu lại nhìn thấy anh V đang mặc đồ thợ điện chạy theo phía sau, P liền tăng ga định tẩu thoát nhưng khi chạy được khoảng 600 mét thì bị anh V đuổi kịp. P bỏ xe lại trên đường rồi chạy bộ vào đường đất, anh V cũng chạy bộ đuổi theo P được khoảng 30 mét thì khống chế và giữ được P.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển số 66N1-038.24, số máy: 5C64657011, số khung: BY657008.
Theo Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 10/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 66N1-038.24, số máy: 5C64657011, số khung: BY657008 bị Huỳnh Trọng P chiếm đoạt, có trị giá 5.760.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 109/CT-VKSBC, ngày 16 tháng 4 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát đã quyết định: Truy tố bị cáo Huỳnh Trọng P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, bị hại đồng ý đối với Kết luận định giá tài sản, tội danh như Cáo trạng truy tố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý đối với toàn bộ Cáo trạng, bản luận tội của Kiểm sát viên, không tham gia tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo hối hận về hành vi của mình, đã nhận thức được bị cáo vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất. Bị cáo xin hứa sẽ không tái phạm nữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[01] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bến Cát, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đồng thời, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Trọng P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:
[2.1] Khoảng 10 giờ ngày 08/01/2025, tại đoạn đường HL108, thuộc khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương, Huỳnh Trọng P đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 66N1-038.24, trị giá 5.760.000 đồng của anh Trương Văn S đang dựng ở ven đường. Khi P đang điều khiển xe mô tô chạy đi thì bị anh Phạm Văn V phát hiện, truy đuổi và bắt giữ P cùng tang vật.
[2.2] Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, tài sản bị thiệt hại có giá trị trị giá 5.760.000 đồng. Bị cáo đã bị kết án với tình tiết tái phạm nguy hiểm theo bản án số 89/2021/HS – ST ngày 17/6/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, chưa được xóa án tích nay tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tại bản Cáo trạng theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội.
[03] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi bị cáo thực hiện: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó cần xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội đồng thời phòng ngừa chung.
[04] Xét nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, không có nghề nghiệp ổn định, có tiền án đến nay chưa được xóa án tích.
[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
[5.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả cho bị hại, cha của bị cáo là người có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.
[7] Về vật chứng: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 66N1-038.24 do ông Trương Văn C đứng tên. Ông C giao xe cho anh S là con trai sử dụng. Xe đã được thu hồi và trao trả cho ông C vào ngày 11/02/2025.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Trọng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Trọng P 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo Huỳnh Trọng P tính từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
-
Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Nga |
Bản án số 110/2025/HS-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 110/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Trọng P phạm tội: "Trộm cắp tài sản"
