Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2025/HS-ST

Ngày: 25 - 11 - 2025

----------------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tươi

Ông Nguyễn Lương Thành

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Thuận - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 25/11/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2025/TLST- HS ngày 01/10/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2025/QĐXXST- HS ngày 07/11/2025, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn V (tên gọi khác: Vũ B), sinh ngày 19 tháng 10 năm 1995 tại xã N, thành phố Đà Nẵng; căn cước công dân số: [...]; nơi cư trú: Khối P, xã N, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1975; vợ: Nguyễn Thị Hiền L, sinh năm 2000 và có 01 con sinh năm 2021.

Tiền án: Ngày 21/6/2022 Nguyễn Văn V bị Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt 3 năm 6 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” bị cáo V chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 04/11/2024.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 08/11/2017, bị cáo V bị TAND huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt 15 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”; ngày 15/11/2021, bị Công an thị trấn N, huyện D, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “đánh bạc trái phép”; ngày 02/12/2021, V bị Công an xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “trộm cắp tài sản”; ngày 04/3/2022, V bị TAND huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xử phạt 18 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”; ngày 12/4/2022, bị Công an huyện D, tỉnh Quảng Nam xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”; ngày 20/6/2025, bị cáo V bị Công an thị trấn N, huyện D, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 24/6/2025.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 08/6/2025, tạm giam từ ngày 13/6/2025; hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Điện Bàn thuộc Trại tạm giam số 02 Công an thành phố Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Văn T2, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2004 tại D, Quảng Nam (cũ); căn cước công dân số: [...]; nơi cư trú: Thôn V, xã D, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C và bà Lê Thị H; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 22/9/2022, Lê Văn T2 bị Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “cố ý gây thương tích”, bị cáo chấp hành hành xong thời gian thử thách vào ngày 22/9/2023, các nghĩa vụ khác về dân sự, án phí, bị cáo đã chấp hành xong vào ngày 01/8/2023; ngày 24/6/2025, T2 bị Công an xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 06/6/2025.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 08/6/2025, tạm giam từ ngày 13/6/2025; hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Điện Bàn thuộc Trại tạm giam số 02 Công an thành phố Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Trần Phước X, sinh năm 1969; trú tại: Thôn A, xã T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lê Văn C, sinh năm 1974; trú tại: Thôn V, xã D, thành phố Đà Nẵng; có mặt.

- Lê Văn T3, sinh năm 1990; trú tại: Thôn V, xã D, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.

- Ông Hồ Đ, sinh năm 1955; trú tại: Thôn T, xã D, thành phố Đà Nẵng; có mặt.

- Ông Lê Văn N, sinh năm 1960; trú tại: Tổ F, phường N, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 07/6/2025, Nguyễn Văn V dùng điện thoại di động hiệu OPPO màu đen của mình gọi cho Lê Văn T2 và nói “Em ở đâu lên chỗ anh, anh em mình kiếm chỗ mô sơ hở kiếm ít đồng” thì T2 đồng ý. Khoảng 05 phút sau, T2 điều khiển xe môtô hiệu Dream có gắn biển kiểm soát 43K7 - 3175 đến nhà của V. Cả hai đi xe môtô của T2 đến Trụ ATM ngân hàng M tại N để nạp tiền vào tài khoản và chơi game. Chơi game được khoảng 20 phút, V nói với T2 “đi thôi”, T2 hỏi lại “đi đâu anh” thì V nói “lên cánh Nông S”. Nghe vậy, T2 chở V đi theo tuyến đường chính quốc lộ 14H hướng N - N. Trên đường đi, V nói T2 đứng ngoài cảnh giới còn V trực tiếp thực hiện việc trộm cắp. Khi đi đến khu vực nhà máy G (thuộc thôn A, xã T, thành phố Đà Nẵng), phát hiện thấy nhà của ông Trần Phước X đang sửa chữa, không có khóa cửa nên V bảo T2 dừng xe lại để V vào tìm tài sản trộm cắp thì T2 dừng xe và đứng ngoài quan sát, cảnh giới. V trèo qua hàng rào bên phải theo hướng từ ngoài nhìn vào để vào nhà. V lấy hai cuộn dây diện CADIVI để ở khu vực phòng khách nhà ông X. Sau đó, V trở ra, đặt hai cuộn dây điện ở vị trí phần trước xe của T2 rồi T2 chở V về lại N. Khi đến đoạn đường quốc lộ 14H thuộc địa bàn thôn T, xã T thì bị Công an xã D (cũ) phát hiện, kiểm tra, lập biên bản và bàn giao tang vật cùng các đối tượng cho Công an xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam (cũ) để xử lý.

Tại Kết luận định giá tài sản số 13/KLĐG - HĐĐGTS ngày 10/6/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D xác định: Một cuộn dây điện hiệu CADIVI, kết cấu: 1x7/0.85 mm, mặt cắt danh nghĩa 4.0 mm², chiều dày cách điện danh nghĩa 1.0 mm, điện áp danh nghĩa 1.6/1KV, chiều dài 100m, ngày sản xuất 21/02/2025, màu đen có giá trị là 1.365.000 đồng. Một cuộn dây điện hiệu CADIVI, kết cấu: 1x7/0.85 mm, mặt cắt danh nghĩa 4.0 mm², chiều dày cách điện danh nghĩa 1.0 mm, điện áp danh nghĩa 1.6/1KV, chiều dài 100m, ngày sản xuất 13/3/2025, màu xanh dương có giá trị là 1.365.000 đồng. Tổng giá trị tài sản các bị cáo V và T2 trộm cắp vào ngày 08/6/2025 là 2.730.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã thu giữ và xử lý các vật chứng:

Thu giữ và sau khi định giá, đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Trần Phước X hai cuộn dây điện hiệu CADIVI Cv 4.0 - 0.6/1KV;

Thu giữ và chuyển cho cơ quan có thẩm quyền quản lý các vật chứng: Một xe mô tô gắn biển kiểm soát: 43K7 - 3175; một điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen của Lê Văn T2; một điện thoại di động hiệu OPPO màu đen của Nguyễn Văn V; một mũ lưỡi trai màu đen có ký tự “VERSACE”, một áo khoác dài tay có mũ trùm đầu màu đen có nhiều ký tự màu trắng lặp lại trên áo là “Calvin Klein” và “adidas” của Nguyễn Văn V; một mũ bảo hiểm màu đen có ký tự “Vespa”, một áo khoác màu đen dài tay không có mũ, trên áo có đính nhiều khuy áo kim loại có dập nổi ký tự “FASHION CLASSIC JEAN” của Lê Văn T2.

Về dân sự: Bị hại đã được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên không có ý kiến, yêu cầu bồi thường gì thêm. Bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại Cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 29/9/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, thành phố Đà Nẵng truy tố các bị cáo Nguyễn Văn V, Lê Văn T2 về tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025. Qua tranh tụng tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 173; các điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù và áp dụng điểm a khoản 2 Điều 173; các điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, xử phạt Lê Văn T2 từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về xử lý vật chứng, đề nghị trả lại cho ông Lê Văn C xe mô tô gắn biển kiểm soát 43K7 - 3175. Các vật chứng khác, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn V, Lê Văn T2 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận các lời khai, lời tường trình của mình trong quá trình điều tra là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, mớm cung, dùng nhục hình hay được hướng dẫn khai báo; các bị cáo thống nhất với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; thống nhất với Kết luận định giá tài sản và nội dung các tài liệu chứng cứ khác được công bố, kiểm tra, xem xét, tranh tụng tại phiên tòa. Qua xét hỏi, tranh luận, các bị cáo thống nhất với nội dung Cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh và hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện; các bị cáo không có ý kiến bào chữa; trình bày lời nói sau cùng tại phiên tòa, các bị cáo hối lỗi, mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo.

Ông Lê Văn C đề nghị được nhận lại xe mô tô gắn biển kiểm soát 43K7 - 3175 để gia đình ông quản lý, sử dụng. Bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong vụ án.

Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại Quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về việc xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử xét thấy việc họ vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và xét xử vụ án nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án theo quy định chung.

[1.2] Về việc chấp hành pháp luật trong quá trình điều tra, truy tố: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác trình bày họ không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố vụ án là đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục.

[2] Về Nội dung vụ án:

[2.1] Xét hành vi phạm tội, tính chất tội phạm, lỗi và vị trí, vai trò của các bị cáo trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội thì thấy:

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn V, Lê Văn T2 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định lời khai, lời tự trình bày của các bị cáo trong quá trình điều tra là tự nguyện, đúng sự thật, không bị ép cung hay được hướng dẫn để khai báo và các bị cáo không phủ nhận nội dung các lời khai đó. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất, không có mâu thuẫn với nhau và với lời khai của chính các bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập, có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét, tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Khuya ngày 07/6/2025, sau khi liên lạc qua điện thoại và thống nhất cùng thực hiện hành vi tìm kiếm và trộm cắp tài sản, Lê Văn T2 đã dùng xe mô tô gắn biển kiểm soát 43K7 - 3175 do mình đang quản lý đến nhà và chở Nguyễn Văn V đi tìm tài sản để trộm cắp. Theo sự hướng dẫn của V, cả hai đi theo tuyến Quốc lộ A, hướng N - N; khi đi, V trao đổi với T2 việc T2 sẽ thực hiện việc quan sát, cảnh giới, còn V trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Khi đến khu vực thôn A, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam (cũ), thấy nhà ông Trần Phước X đang sửa chữa, không có cửa khóa nên V bảo T2 dừng xe, đứng ngoài quan sát, cảnh giới còn V trèo qua tường rào vào nhà ông X. Tại đây V lấy 02 cuộn dây điện hiệu CADIVI rồi mang ra để ở phần trước xe mô tô của T2. Cả hai khi trên đường về lại N thì bị phát hiện, bắt giữ và xử lý. 02 cuộn dây điện hiệu CADIVI mà V lấy trộm tại nhà của ông Trần Phước X có giá trị được xác định qua kết quả định giá là 2.730.000 đồng. Về lỗi, các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý gián tiếp.

Xét tính chất tội phạm, vị trí vai trò của các bị cáo trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, thấy rằng: Quá trình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, các bị cáo V, T2 có sự thông tin, trao đổi và thống nhất cùng nhau thực hiện việc trộm cắp. Trong đó, V là người khởi xướng, phân công nhiệm vụ cho T2; T2 đồng ý và thực hiện việc cảnh giới cho V, T2 còn là người trực tiếp sử dụng phương tiện do chính mình đang quản lý để hỗ trợ, giúp cho V thực hiện được hành vi trộm cắp và tẩu tán tài sản đã trộm cắp. Thực tế, các bị cáo đã thực hiện xong hành vi trộm cắp tài sản theo đúng sự thống nhất ý chí đó. Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp có tổ chức. Về vị trí, vai trò, bị cáo V có vị trí, vai trò cao hơn so với bị cáo T2 trong quá trình phạm tội nên V phải chịu trách nhiệm hình sự lớn hơn so với T2.

Từ phân tích đó, thấy rằng, hành vi phạm tội của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025. Cáo trạng số 51/CT - VKS ngày 29/9/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng truy tố hành vi phạm tội của các bị cáo V và T2 là có căn cứ pháp luật.

[2.2] Xét mức độ, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện thì thấy: Các bị cáo Nguyễn Văn V và Lê Văn T2 cùng thống nhất thực hiện hành vi phạm tội khi đều đã đủ tuổi thành niên; có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng tài sản hợp pháp của người khác luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ nhưng các bị cáo vẫn coi thường pháp luật, xâm phạm tài sản của người khác, lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt nhằm có được tài sản để sử dụng cá nhân. Hành vi của các bị cáo đáng bị lên án; cần phải áp dụng loại và mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe, giáo dục và ngăn ngừa các bị cáo tiếp tục phạm tội; phòng ngừa các hành vi phạm tội có tính chất tương tự, góp phần đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

[2.3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:

- Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn V, vào ngày 21/6/2022 Nguyễn Văn V bị Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt 3 năm 6 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” theo Bản án số 21/2022/HSST và bản án đã có hiệu lực pháp luật. Bị cáo V chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 04/11/2024 theo Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù số 618/GCN ngày 04/11/2024. Tính đến ngày phạm tội lần này (ngày 07/6/2025), bị cáo V chưa được xóa án tích theo quy định pháp luật. Do đó, hành vi phạm tội lần này của bị cáo V thuộc trường hợp tái phạm và bị cáo V phải bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025. Bị cáo Lê Văn T2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn V, Lê Văn T2 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của các bị cáo tuy xâm phạm chế độ sở hữu tài sản hợp pháp của người khác nhưng giá trị tài sản bị chiếm đoạt nhỏ; sau khi bị phát hiện thì tài sản bị trộm cắp đã được thu hồi, trả lại cho chủ sở hữu và được chủ sở hữu kiểm tra, thống nhất nhận lại tài sản, thiệt hại về tài sản không lớn trên thực tế. Các bị cáo hiện tại đều có điều kiện, hoàn cảnh gia đình khó khăn, được bị hại đề nghị giảm nhẹ mức hình phạt. Từ đó, thấy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với hai bị cáo.

[2.4] Xét các đặc điểm về nhân thân, lý lịch của các bị cáo thấy rằng: Các bị cáo V và T2 có nhân thân xấu. Bị cáo Nguyễn Văn V đã nhiều lần bị Tòa án có thẩm quyền kết án về tội trộm cắp tài sản và bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo T2 bị Tòa án kết án về tội “cố ý gây thương tích” và cho được hưởng án treo. Ngay trước lần phạm tội này, các bị cáo có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, các bị cáo không lấy đó làm bài học để tự răn đe, giáo dục mình mà lại tiếp tục cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội; tính chất tội phạm và vị trí, vai trò của các bị cáo khi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các đặc điểm về nhân thân, lý lịch của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với cả hai bị cáo Nguyễn Văn V và Lê Văn T2, với mức phù hợp mới đủ răn đe, cảnh tỉnh, ngăn ngừa các bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét, giảm một phần mức hình phạt mà lẽ ra cần áp dụng đối với các bị cáo.

Các bị cáo hiện tại có điều kiện, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử thấy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[2.5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được nhận lại tài sản trộm cắp và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.6]. Về xử lý vật chứng:

Đối với vật chứng là hai cuộn dây điện hiệu CADIVI mà các bị cáo đã trộm cắp, Cơ quan cảnh sát điều tra, sau khi tiến hành định giá đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Trần Phước X; ông X thống nhất, không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không truy xét.

Quá trình phạm tội, các bị cáo V và T2 sử dụng điện thoại di động của mình để liên lạc với nhau về tổ chức thực hiện tội phạm, được xác định là công cụ phạm tội nên cần tịch thu, sung công quỹ nhà nước.

- Đối với xe mô tô màu nâu, gắn biển kiểm soát 43K1-3175, nguyên trước đây xe có biển kiểm soát 43K1-2030, số khung: 1514318, số máy: 1514315 do ông Hồ Đ (trú thôn T, xã D, thành phố Đà Nẵng) đứng tên đăng ký. Sau đó, ông Đ bán lại cho ông Lê Văn T3 (sinh năm 1990, trú thôn V, xã D, thành phố Đ). Ông T3 tiếp tục bản lại xe mô tô trên cho ông Lê Văn C (cha ruột Lê Văn T2). Quá trình sử dụng, xe bị mất biển số nên ông C lấy biển số xe 43K1-3175 của xe mô tô nhãn hiệu Mingxing do ông Lê Văn N - chú ruột ông C cho ông C gắn vào để sử dụng. Việc Lê Văn T2 sử dụng xe mô tô trên vào việc trộm cắp tài sản thì ông C không biết nên không có cơ sở truy cứu trách nhiệm đối với ông C và cần trả lại xe mô tô cho ông Lê Văn C. Trường hợp có tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu xe thì được xem xét, giải quyết bằng vụ án dân sự riêng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, nếu có yêu cầu.

- Đối với các vật chứng khác, Hội đồng xét xử thấy cần tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) mũ lưỡi trai màu đen có ký tự "VERSACE"; 01 (một) áo khoác dài tay có mũ trùm đầu màu đen có nhiều ký tự màu trắng lặp lại trên áo "Calvin Klein" và "adidas" của Nguyễn Văn V; 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen có ký tự "Vespa", 01 (một) áo khoác m den dài tay không có mũ, trên áo đính nhiều khuy áo kim loại có dập nổi ký "FASHION CLASSIC JEAN" của Lê Văn T2 vì đây là các công cụ mà các bị cáo dùng để che giấu quá trình thực hiện tội phạm củ mình.

[3] Các vấn đề khác: Không có.

[4]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 173; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025). Áp dụng các Điều 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015, (được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025); các Điều 260, 292, 326, 329 và 333 của Bộ Luật Tố tụng hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V đã phạm tội “trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V hình phạt tù, mức hình phạt: 3 (ba) năm, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 08/6/2025).

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 173; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025). Áp dụng các Điều 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015, (được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025); các Điều 260, 292, 326, 329 và 333 của Bộ Luật Tố tụng hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Lê Văn T2 đã phạm tội “trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Lê Văn T2 hình phạt tù, mức hình phạt: 2 (hai) năm, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 08/6/2025).

T4 tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả lại cho ông Lê Văn C xe mô tô màu sơn nâu, số khung: 1514318, số máy: 1514315, gắn biển kiểm soát: 43K1-3175.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: Một điện thoại Nokia, Model TA-1174, màu đen; số Imei 1: 357754105885462; Imei 2: 357754107885460, gắn sim số: 0775416327 của Lê Văn T2 và một điện thoại nhãn hiệu Oppo A5 2020, màu đen (bị nứt màn hình); số Imei 1: 862208047990599; Imei 2: 862208047990581, gắn sim số: 0775444118 và số 0896679803 của Nguyễn Văn V.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mũ lưỡi trai màu đen có ký tự "VERSACE"; 01 (một) áo khoác dài tay có mũ trùm đầu màu đen có nhiều ký tự màu trắng lặp lại trên áo "Calvin Klein" và "adidas" của Nguyễn Văn V; 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen có ký tự "Vespa", 01 (một) áo khoác màu đen dài tay không có mũ, trên áo đính nhiều khuy áo kim loại có dập nổi ký tự "FASHION CLASSIC JEAN" của Lê Văn T2.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Đà Nẵng;
  • - Viện KSND thành phố Đà Nẵng;
  • - Viện KSND Khu vực 10;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đà Nẵng;
  • - Phòng thi hành án Khu vực 10 - Đà Nẵng;
  • - Bị cáo, bị hại, đương sự;
  • - Hồ sơ thi hành án hình sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2025/HS-ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG về hình sự: trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 110/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger