|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 110/2025/HS-ST Ngày: 12 - 6 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Kiều Lương
Hội thẩm nhân dân:
Ông Kiều Minh Sinh
Bà Châu Thị Chánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 101/2025/TLST-HS ngày 23/4/2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2025/QĐXX-ST ngày 12/5/2025, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Phạm Hoàng D. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 31 tháng 5 năm 1996, tại tỉnh Đồng Nai. Số CCCD: [...]; cấp ngày 21/9/2022; nơi cấp Cục QLHC về TTXH -BCA.
Nơi cư trú: Số nhà I, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nơi ở hiện tại: tổ C, khu phố H, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Thiên chúa. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Phạm Đức V, sinh năm: 1967, con bà: Vũ Thị T, sinh năm: 1967. Gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ ba và chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 11/11/2024, bị Công an thành phố Đ khởi tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Bị bắt ngày 02/11/2024, hiện bị cáo đang bị tạm giam (trong vụ án khác) tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ.
2. Họ và tên: Nguyễn Quốc C. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 04 tháng 11 năm 2000, tại tỉnh Đồng Tháp. Số CCCD: [...]; cấp ngày 24/5/2023; nơi cấp: Cục Q về TTXH -BCA.
Nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Nơi ở hiện tại: khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 3/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Nguyễn Văn H, sinh năm: 1973, con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1979. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Bị cáo sống như vợ chồng với Phạm Thu H1 sinh năm 2001 và có 01 con sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt ngày 06/11/2024, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính: Phạm Hoàng D là người không có việc làm ổn định nên nảy sinh ý định mua bán trái phép vũ khí quân dụng để hưởng lợi. Vào khoảng đầu tháng 10 năm 2024, D truy cập vào mạng xã hội Youtube tìm hiểu và đặt mua 03 khẩu súng bằng kim loại, kiểu ru lô gồm 01 khẩu súng màu đen và 02 khẩu súng màu trắng bạc và 50 viên đạn với giá 10.200.000 đồng của đối tượng (không rõ lai lịch) và hẹn địa điểm nhận súng tại tổ C thuộc khu phố H, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nơi D đang ở) để mua bán súng, đạn. Sau đó khoảng 07 ngày tại điểm hẹn, một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) đi xe mô tô (không rõ biển số) giao cho D 03 khẩu súng, 50 viên đạn và nhận 10.200.000 đồng. D mang súng, đạn vào phòng ngủ nơi ở của D để cất giấu.
Vào ngày 18/10/2024, tại quán cà phê “Thùy” thuộc phường T, thành phố B, D nói chuyện với 01 người đàn ông tên P (không rõ nhân thân lai lịch) về việc D có 03 khẩu súng cần bán, lúc này Nguyễn Quốc C ngồi bàn kế bên nghe vậy thì hỏi D để mua 01 khẩu súng nhằm phòng thân. Sau đó, D chở C về nhà mình để cho C xem 03 khẩu súng, C đồng ý mua 02 khẩu súng màu trắng bạc và 04 viên đạn với giá 12.000.000 đồng. Sau đó, C mang 02 khẩu súng cùng 04 viên đạn về nơi ở tại số nhà K, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cất giấu.
Đến ngày 20/10/2024, C lấy 02 khẩu súng để lắp đạn vào súng, khi tháo hộp đạn thì 01 khẩu súng không tháo được 02 viên đạn ra khỏi súng nên C mang khẩu súng này trả lại cho D, D nhận lại súng và đưa cho C 01 khẩu súng bằng kim loại, màu đen bên trong có 01 viên đạn C mang về nhà nhưng không mở được ổ quay của hộp tiếp đạn nên ngày 23/10/2024, C mang đến khu vực cầu H thuộc thành phố B vứt xuống sông Đ. Đến ngày 05/11/2024, Nguyễn Quốc C mang theo khẩu súng bằng kim loại màu trắng bạc bên trong có 02 viên đạn đến nhà anh Bùi Quốc C1 (sinh năm 1996) tại tổ A, thuộc khu phố Đ, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai phát hiện lập biên bản phạm tội quả tang thu giữ:
2. Vật chứng vụ án:
- - 01 khẩu súng bằng kim loại màu trắng bạc, ốp tay cầm bằng nhựa màu đen, kiểu dáng súng rulo, không có số hiệu.
- - 02 viên đạn có vỏ và đầu đạn màu vàng đồng, kích thước mỗi viên đạn dài khoảng 2,3cm, đường kính đáy viên đạn khoảng 0,5cm, có ký hiệu chữ C.
- - 01 điện thoại di động hiệu iphone 15 Promax, màu xám có số Imel 357164768587639.
3. Giám định và kết luận giám định: Tại Bản kết luận giám định số 6926/KL-KTHS ngày 13/11/2024 của Phân viện khoa học hình sự Bộ C2 tại TP Hồ Chí Minh kết luận:
- - 01 khẩu súng bằng kim loại màu trắng bạc, ốp tay cầm bằng nhựa màu đen, kiểu dáng súng rulo, không có số hiệu gửi giám định là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng; thuộc loại súng ổ quay chế tạo thủ công bắn đạn cỡ (5,6x15,5)mm.
- - 02 viên đạn có vỏ và đầu đạn màu vàng đồng, kích thước mỗi viên đạn dài khoảng 2,3cm, đường kính đáy viên đạn khoảng 0,5cm, có ký hiệu chữ C gửi giám định là vũ khí thể thao, thuộc loại đạn cỡ (5,6x15,5)mm, không phải là vũ khí quân dụng, sử dụng cho khẩu súng nêu trên và một số loại súng như: TOZ8, K55, các loại súng chế tạo thủ công có cấu tạo phù hợp (đã bắn thực nghiệm 02 viên không hoàn trả). (Bút lục số 30).
4. Truy tố: Cáo trạng số 102/CT-VKS-P1 ngày 11/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Phạm Hoàng D về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” truy tố bị cáo Nguyễn Quốc C về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự;
5. Ý kiến của bị cáo: Tại đơn xin xét xử vắng mặt các bị cáo xác định tất cả lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc hay bức cung. Kết luận điều tra cũng như bản cáo trạng truy tố bị cáo ra trước Tòa hoàn toàn phù hợp với hành vi của bị cáo đã thực hiện. Các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo mức án nhẹ để sớm trở về với gia đình.
6. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:
6.1. Về tội danh, trách nhiệm hình sự, quan điểm truy tố và điều luật áp dụng:
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý đối với vụ án và giữ nguyên quyết định truy tố đối với Phạm Hoàng D về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” truy tố bị cáo Nguyễn Quốc C về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự;
6.2. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
6.3. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra cho đến thời điểm xét xử cả hai bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là dân lao động. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
6.4. Điều luật áp dụng và mức án đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 304 điểm s khoản 1 và 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Hoàng D mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến đến 03 (ba) năm tù.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc C mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù
6.5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 và 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đ quản lý 01 khẩu súng có chữ OX-4170 màu trắng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của Pháp luật Tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ, quyền được bào chữa và tự bào chữa của bị cáo, được bảo đảm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.
- Trong vụ án có bị cáo Phạm Hoàng D và Nguyễn QUốc C có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án.
2.1. Hành vi của bị cáo bị truy tố:
Căn cứ vào các chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập, kết quả giám định vật chứng, biên bản thu nhận vật chứng, biên bản khám xét cùng các chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ trong vụ án, thể hiện: Trong thời gian từ tháng 10/2024 đến ngày 17/10/2024, tại tổ C, khu phố H, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Phạm Hoàng D có hành vi tàng trữ trái phép 01 khẩu súng bằng kim loại màu trắng bạc, ốp tay cầm bằng nhựa màu đen, kiểu dáng súng rulo, không có số hiệu là vũ khí quân dụng. Đến ngày 18/10/2024, D bán khẩu súng trên cho Nguyễn Quốc C với giá 12.000.000 đồng từ việc bán trái phép vũ khí quân dụng. Sau khi mua được súng C mang về nhà cất giấu. Sau đó, bị cáo Nguyễn Quốc C mang đến nhà anh Bùi Quốc C1 (sinh năm 1996) tại tổ A thuộc khu phố Đ, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an phường H, thành phố B phát hiện và thu giữ.
Hành vi của bị cáo Phạm Hoàng D thực hiện đã phạm vào tội về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” bị cáo Nguyễn Quốc C phạm vào tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự;
2.2. Đánh giá về tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo:
Hành vi của các bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến an toàn công cộng bằng việc vi phạm các quy định của Nhà nước về chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán và quản lý vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự là khách thể được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, đối với bị cáo cần phải áp dụng hình phạt phù hợp với hành vi của bị cáo đã thực hiện nhằm mục đích giáo dục và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.
[3]. Về hình phạt áp dụng cho các bị cáo:
3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thuộc thành phần lao động. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa về hành vi phạm tội, tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đ tiếp tục quản lý 01 khẩu súng bằng kim loại màu trắng bạc, ốp tay cầm bằng nhựa màu đen, kiểu dáng súng rulo, không có nhãnhiệu, ký hiệu.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax, màu xám có số Imel 357164768587639 của Nguyễn Quốc C dùng vào việc phạm tội.
- Buộc Phạm Hoàng D giao nộp 12.000.000 đồng là tiền thu được từ việc bán trái phép vũ khí quân dụng để sung quỹ Nhà nước
[6]. Vấn đề khác: Đối với 01 khẩu súng bằng kim loại, kiểu ru lô, màu đen bên trong có 01 viên đạn; 01 khẩu súng bằng kim loại màu trắng bạc, kiểu dáng súng rulo và 47 viên đạn, Nguyễn Quốc C và Phạm Hoàng D đã vứt đi, Cơ quan An ninh điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng chưa thu hồi được và đối với người đàn ông (không rõ họ tên, nhân thân lai lịch) bán súng, đạn cho D, người đàn ông tên P (không rõ nhân thân lai lịch) biết việc D tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng hiện chưa xác minh được nhân thân lai lịch nên Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục xác minh làm rõ và đề nghị xử lý sau.
Đối với Bùi Quốc C1 không biết Nguyễn Quốc C mang súng đến nhà mình vào ngày 05/11/2024 nên Cơ quan An ninh điều tra không xử lý là phù hợp.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật TốhìnhNghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:
Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng D phạm tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” bị cáo Nguyễn Quốc C phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng”.
2. Áp dụng pháp luật: Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
3. Quyết định hình phạt:
3.1. Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng D: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/11/2024.
3.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc C: 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2024.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đ quản lý 01 khẩu súng bằng kim loại màu trắng bạc, dạng ổ quay, tay nắm ốp nhựa màu đen, không có nhãn hiệu, ký hiệu.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax, màu xám có số Imel 357164768587639 .
Tình trạng vật chứng, tài sản: Đã qua sử dụng, cũ, đã được đóng niêm phong có chữ ký của Nguyễn Quốc C và chữ ký của Điều tra viên nguyễn Văn L1
(Theo quyết định chuyển vật chứng số 3409/QĐ – VKS-P1 ngày 11/04/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, các biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/4/2025, Phiếu nhập NK25/93 ngày 14/4/2024; Lệnh nhập kho số 10-VC ngày 18/4/2025 và Biênbản giao nhận vật chứng ngày 24/4/2025);
- Buộc bị cáo Phạm Hoàng D phải nộp lại số tiền 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng) là tiền thu được từ việc bán trái phép vũ khí quân dụng để sung quỹ Nhà nước.
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Kiều Lương |
Bản án số 110/2025/HS-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tội phạm về vũ khí quân dụng
- Số bản án: 110/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội phạm về vũ khí quân dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong thời gian từ tháng 10/2024 đến ngày 17/10/2024, Phạm Hoàng D có hành vi tàng trữ trái phép 01 khẩu súng bằng kim loại màu trắng bạc, ốp tay cầm bằng nhựa màu đen, kiểu dáng súng rulo, không có số hiệu là vũ khí quân dụng. Đến ngày 18/10/2024, D bán khẩu súng trên cho Nguyễn Quốc C với giá 12.000.000 đồng từ việc bán trái phép vũ khí quân dụng
