|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 110/2025/HS-ST Ngày: 11-6-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Hồng Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Đình Rành;
2/ Ông Nguyễn Như Thủy;
Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tấn Sang - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 04 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 05 năm 2025 và Thông báo về việc dời ngày xét xử số 07/2025/TB-TA ngày 21/05/2025, đối với bị cáo họ và tên:
Phạm Duy T4, tên gọi khác: không; sinh năm 2004 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không có; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú rõ ràng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 1/12; Con ông Nguyễn Văn P và bà Phạm Hà M; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Nguyễn Hoàng Kim T, tên gọi khác: không; sinh năm 2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A B, Phường H, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số C Đê Bao rạch C, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Con bà Lưu Kim T1; Bị cáo chưa có chồng, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Phạm Duy T4 và bị cáo Nguyễn Hoàng Kim T: Ông Vũ Hữu Thiên Â, sinh năm 1971 – Luật sư Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; Địa chỉ: Số A D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
Bị hại: Bà Hà Thị Thúy T2, sinh năm 2004; Địa chỉ: Số A B, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Trần Thị N, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số G, T, Khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
2/ Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số I đường H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
3/ Bà Huỳnh Ngọc V, sinh năm 1985; Địa chỉ: Số B đường T, phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
4/ Ông Trần Trọng T3, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số A P, phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
5/ Bà Phạm Hà M, sinh năm 1968; Địa chỉ: Số A, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11giờ ngày 01/10/2024, Phạm Duy T4 rủ Nguyễn Hoàng Kim T (sống chung như vợ chồng) đi cướp giật tài sản lấy tiền tiêu xài, trả tiền nhà trọ. T đồng ý. T4 điều khiển xe mô tô hiệu Vision màu đỏ, biển số: 59C1-580.03 chở Trân từ nhà ở huyện B sang địa bàn Quận G tìm người có tài sản sơ hở cướp giật. Khi đến đường T, gần trường Đại học T7, T4 thấy chị Hà Thị Thúy T2 đang đi bộ, trên tay cầm điện thoại hiệu Iphone 14 Promax màu trắng sử dụng, T4 nói T "kìa" và đánh mặt về phía chị T2. T đồng ý nói "ừ". T4 quay đầu xe, chạy sát bên trong lề đường bên phải, từ phía sau tăng ga đến phía bên phải chị T2, T4 giật chiếc điện thoại trên tay phải của chị T2 rồi tăng ga tẩu thoát, chị T2 đuổi theo tri hô "cướp, cướp". T4 chạy khoảng hơn 10m bị chị Trịnh Thị N1 bán hủ tiếu gần đó nghe tiếng tri hô, dùng chân đạp vào bên hông xe mô tô do T4 điều khiển, T4 tiếp tục tăng ga chở T chạy ra đường T, tay trái cầm chiếc điện thoại di động vừa cướp giật, T4 bị 01 người đàn ông (chưa rõ thân nhân, lai lịch) sử dụng xe mô tô đuổi theo nên T4 tăng ga ra đường H, chạy về Khu chế xuất (khu chế xuất)T, Quận G. T4 để chiếc điện thoại cướp giật được vào giữa 02 chân, điều khiển xe mô tô vào đường nội bộ của khu chế xuất T, Quận G, khi qua cổng kiểm soát của khu chế xuất được khoảng 20m T4 không thấy ai đuổi theo nên T4 cởi áo ném xuống bụi cỏ bên đường, T4 lấy điện thoại đi động vừa cướp giật ra xem, thấy điện thoại có 01 ốp lưng màu trắng bên trong có 01 thẻ ngân hàng màu đen, T4 ném thẻ xuống chỗ áo khoác dài tay màu đen bên bụi cây bên đường. Thọ nhét điện thoại cướp giật được vào giữa 02 chân, điều khiển xe mô tô chở T về nhà trọ số C Đê Bao rạch C, xã A, huyện B. T4 điều khiển xe mô tô hiệu Vision màu đỏ, biển số: 59C1-580.03 đến tiệm dán đề can màu xám ánh hồng để không bị phát hiện. Đến khoảng 13 giờ ngày 02/10/2024, T4 và T bị Công an Q mời về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, bị can Phạm Duy T4, Nguyễn Hoàng Kim T khai nhận thực hiện hành vi cướp giật điện thoại di động như trên.
Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Hội đội định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 7 số 359/KL-HĐĐGTS ngày 22/10/2024 kết luận: Điện thoại Iphone 14 ProMax màu trắng, dung lượng 128G, đã qua sử dụng, trị giá 20.000.000 đồng.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xám ánh hồng, biển số: 59C1-580.03, đã qua sử dụng. Là phương tiện Phạm Duy T4 điều khiển đi thực hiện cướp giật tài sản. Kết quả xác minh người đứng tên chủ sở hữu là Huỳnh Ngọc V. Ngày 28/12/2022, chị V ủy quyền định đọat cho ông Trần Trọng T3. Ông T3 khai vào tháng 3/2024 bán xe trên cho Phạm Duy T4, không yêu cầu gì về xe nêu trên. Phạm Duy T4 khai giống nội dung của ông T3.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu trắng, dung lượng 128GB, số thuê bao 0971028916, đã qua sử dụng. Là điện thoại đi động của bị hại Hà Thị Thuy T5.
- 01 thẻ tín dụng Ngân hàng SHB màu đen, phía sau thẻ có mã số 5333988588534993 mang tên Le Thi D. Của bị hại Hà Thị Thùy T6.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng, dung lượng 256GB, số Imei: 353057092007825, số thuê bao 08969202588, đã qua sử dụng. Là điện thoại di động của Phạm Duy T4 sử dụng vào việc phạm tội.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu xám, dung lượng 512GB, có số Imei 1: 356388810327394; số Imei 2: 356388810312578, sử dụng số thuê bao 0789744744, đã qua sử dụng. Nguyễn Minh H khai sử dụng liên lạc với T4.
- 01 quần thun dài màu đen, viền 02 bên ống quần sọc ca rô, đã qua sử dụng; 01 áo thun dài tay màu xanh biển, phía trước có chữ Adidas. Là quần, áo của Nguyễn Hoàng Kim T mặc đi thực hiện cướp giật tài sản.
- 01 quần thun dài màu đen; 01 áo thun ngắn tay máu xám, đã qua sử dụng. Là quần, áo của Phạm Duy T4 mặc đi thực hiện cướp giật tài sản.
- Tiền mặt 5.000.000 đồng. Thu giữ của Phạm Duy T4. T4 khai là tiền bán điện thoại di động của chị T6.
Ngày 28/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an Q ra Quyết định xử lý vật chứng trả: điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu trắng, dung lượng 128GB, số thuê bao 0971028916 và 01 thẻ tín dụng Ngân hàng SHB màu đen, phía sau thẻ có mã số 5333988588534993 mang tên Le Thi D cho bị hại Hà Thị Thùy T6; điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu xám, dung lượng 512GB, có số Imei 1: 356388810327394; số Imei 2: 356388810312578, số thuê bao 0789744744 và 5.000.000 đồng cho anh Nguyễn Minh H. Số vật chứng chưa xử lý Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an Q tiến hành ra Lệnh, phiếu nhập kho vật chứng.
* Về dân sự: Bị hại Hà Thị Thùy T2 đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì khác. Ông Nguyễn Minh H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Tại Bản cáo trạng số 93/CT-VKSQ7 ngày 18/04/2025, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản”, thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phạm Duy T4 từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù; bị cáo Nguyễn Hoàng Kim T từ 03 (ba) năm tù đến 04 (bốn) năm tù và xử lý vật chứng theo quy định.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Phạm Duy T4, bị cáo Nguyễn Hoàng Kim T, luật sư Vũ Hữu Thiên  trình bày: Đồng ý với tội danh và hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo T4 và bị cáo T. Tuy nhiên, các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội tuổi đời còn nhỏ, tài sản cướp giật đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại và các đương sự liên quan cũng không có yêu cầu bồi thường do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự, áp dụng cho các bị cáo mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát.
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không bào chữa bổ sung, không tranh luận và đã thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qua trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa, kết hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ, xét đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 01/10/2024, bị cáo Phạm Duy T4 điều khiển mô tô chở đồng phạm Nguyễn Hoàng Kim T thực hiện hành vi nhanh chóng, bất ngờ cướp giật chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu trắng, dung lượng 128GB của chị Hà Thị Thùy T6 có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt là 20.000.000 đồng, rồi tăng ga bỏ trốn. Vì vậy, hành vi này của các bị cáo đã cấu thành tội “Cướp giật tài sản”, thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm. Tội phạm và hình phạt đối với các bị cáo được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố là đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an. Các bị cáo là thanh niên khỏe mạnh, nhận thức rõ hành vi cướp giật tài sản là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động nên các bị cáo đã phạm tội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Riêng bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức nhưng không tham gia trực tiếp vào hành vi cướp giật nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình có mức án thấp hơn so với bị cáo T4.
[5] Đối với Nguyễn Minh H là người mua điện thoại của bị cáo Phạm Duy T4 cướp giật mà có. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra H không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự.
[7] Đối với Phạm Hà M được nhận tiền từ bị cáo T4 không biết đây là số tiền thu lợi bất chính và cũng đã giao nộp lại nên không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự.
[8] Xử lý vật chứng:
+ 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xám ánh hồng, biển số: 59C1-580.03, đã qua sử dụng. Là phương tiện Phạm Duy T4 điều khiển đi thực hiện cướp giật tài sản. Kết quả xác minh người đứng tên chủ sở hữu là Huỳnh Ngọc V. Ngày 28/12/2022, chị V ủy quyền định đoạt cho ông Trần Trọng T3. Ông T3 khai vào tháng 3/2024 bán xe trên cho Phạm Duy T4, không yêu cầu gì về xe nêu trên. Phạm Duy T4 khai giống nội dung của ông T3. Đây là phương tiện bị cáo T4 đi cướp giật tài sản nên tịch thu sung quỹ.
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu trắng, dung lượng 128GB, số thuê bao 0971028916, đã qua sử dụng. Là điện thoại đi động của bị hại Hà Thị Thuy T5. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại nên không xét.
+ 01 (một) thẻ tín dụng Ngân hàng SHB màu đen, phía sau thẻ có mã số 5333988588534993 mang tên Le Thi D. Của bị hại Hà Thị Thùy T6. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại nên không xét.
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng, dung lượng 256GB, số Imei: 353057092007825, số thuê bao 08969202588, đã qua sử dụng. Là điện thoại di động của Phạm Duy T4 sử dụng vào việc phạm tội. Đây là phương tiện bị cáo T4 đi cướp giật tài sản nên tịch thu sung quỹ.
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu xám, dung lượng 512GB, có số Imei 1: 356388810327394; số Imei 2: 356388810312578, sử dụng số thuê bao 0789744744, đã qua sử dụng. Nguyễn Minh H khai sử dụng liên lạc với T4. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông H nên không xét.
+ 01 (một) quần thun dài màu đen, viền 02 bên ống quần sọc ca rô, đã qua sử dụng; 01 áo thun dài tay màu xanh biển, phía trước có chữ Adidas. Là quần, áo của Nguyễn Hoàng Kim T mặc đi thực hiện cướp giật tài sản. Đây là quần áo bị cáo T đi cướp giật tài sản, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
+ 01 (một) quần thun dài màu đen; 01 áo thun ngắn tay máu xám, đã qua sử dụng. Là quần, áo của Phạm Duy T4 mặc đi thực hiện cướp giật tài sản. Đây là quần áo bị cáo T4 đi cướp giật tài sản, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
+ Tiền mặt 5.000.000 đồng. Thu giữ của Phạm Duy T4. T4 khai là tiền bán điện thoại di động của chị T6. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông H nên không xét.
[9] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Phạm Duy T4 03 (Ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Kim T 03 (Ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2024.
2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:
2.1. Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) quần thun dài màu đen, viền 02 bên ống quần sọc ca rô, đã qua sử dụng; 01 áo thun dài tay màu xanh biển, phía trước có chữ Adidas.
+ 01 (một) quần thun dài màu đen; 01 áo thun ngắn tay máu xám, đã qua sử dụng.
2.1. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
+ 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xám ánh hồng, biển số: 59C1-580.03, đã qua sử dụng.
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng, dung lượng 256GB, số Imei: 353057092007825, số thuê bao 08969202588, đã qua sử dụng.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 127 ngày 07/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh)
3. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo T4 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng. Bị cáo T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
|
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Đoàn Hồng P1 |
Bản án số 110/2025/HS-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (cướp giật tài sản)
- Số bản án: 110/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp giật tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
